Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romanian
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
"Làm sao con người biết điều không thể biết?"
Con người phải sở hữu năng lực gì?
Kể từ khi dầu cá voi được khám phá
có thể thắp sáng các thành phố của ta hơn bao giờ hết,
nó đã tạo ra một nhu cầu toàn cầu.
Nó đã đẩy con người phiêu lưu ngày càng xa hơn
vào biển xanh vô định.
Ta không biết biển sâu từng nào, cũng như những sinh vật sống dưới đó.
Những con quái vật. Chúng có thật không?
Hay những chuyện được dựng lên chỉ để ta tôn trọng các bí mật đen tối của biển?"
BIỂN SÂU DẬY SÓNG
ĐẢO NANTUCKET MASSACHUSETTS - THÁNG 2 NĂM 1850
"Câu hỏi này khiến tôi vừa lo âu vừa thích thú
và cũng là lý do khiến tôi viết thư hẹn gặp ông lần thứ hai.
Một cuộc đối thoại với ông, tôi tin sẽ giúp tôi nhiều
cho cuốn tiểu thuyết tôi định viết,
hiện được đặt tên là Moby Dick.
Tôi hy vọng ông sẽ cân nhắc lời đề nghị của tôi.
Điều không biết đến.
Đó là nơi trí tưởng tượng của tôi khao khát khám phá.
Và vì thế câu hỏi vẫn ám ảnh tôi.
Làm sao con người biết điều không thể biết được?
Trân trọng, Herman Melville."
Chúng tôi đóng cửa rồi.
Không đón khách sau 8:00.
Anh đến rồi.
Có người đến gặp anh này, anh yêu.
Tom Nickerson?
Herman Melville.
Chúng tôi đã nhận thư của anh.
Anh hoặc là một kẻ tuyệt vọng
hoặc là một tên ngốc mới đến tận Nantucket.
À, lời đề nghị của tôi vẫn còn.
Ba tháng ở tạm cho một đêm nói chuyện.
Tất cả những gì tôi có.
Nhưng tôi thích coi nó như một vụ đầu tư hơn.
Tôi muốn ông nói cho tôi biết chuyện đã xảy ra với tàu Essex.
Anh nghĩ đã có chuyện gì?
Có một vài lùm xùm. Tin đồn rằng chiếc Essex đã...
Anh muốn gì đây?
Anh muốn nghe câu chuyện nào?
Chuyện về cá voi.
Chiếc Essex bị đã mắc cạn. Đã có điều tra đầy đủ rồi.
Tôi tin là cuộc điều tra đó không đúng mấy.
Ra ngoài đi.
Ông là người cuối cùng sống sót của tàu Essex.
Nếu ông không nói, thì ai sẽ nói đây?
Anh không nghe tôi à? Đi ra. Ngay.
- Không đi được. Làm ơn. - Ông ấy không có hứng nói chuyện.
Và không phải tôi phí thời gian đến tận đây để chịu xỉ nhục.
Làm ơn, anh Melville.
Ông ấy không nói cho tôi về về tàu Essex. Không nói cho ai cả. Chưa bao giờ.
Có một nỗi đau trong ông ấy.
Linh hồn ông ấy đang bị dằn vặt,
và cần phải thú tội.
Xin anh, hãy để tôi nói với ông ấy.
Làm ơn.
Anh yêu.
Em tin là sẽ tốt cho anh khi nói chuyện với anh ta.
Không.
Anh nghe cho rõ đây.
Ai lo cho chỗ này trong khi anh uống say mèm vậy?
Anh phải nói với người này đủ nhiều để giữ lại số tiền.
Anh biết hoàn cảnh của mình mà, Thomas.
Chỉ nói đến mức cần thiết thôi.
Em sẽ đi lấy whiskey.
Tôi đã quên không nhắc đến trong thư,
nhưng tôi đã từng là một thợ săn cá voi.
Ý tôi là chỉ một chuyến thôi.
Tay mơ mà.
Vậy, anh đã thấy cả rồi.
Vợ tôi đã đọc các sách của anh.
Bà ấy thích chúng lắm.
Thật vui khi điều đó.
Chúng bán chạy đấy.
Và tôi nghĩ câu chuyện này có thể sẽ thành công vượt bậc
so với tiểu thuyết đầu tay của tôi, là cuốn đã rất khá.
Chuỗi chuyện về thám hiểm đại dương nữa hả?
Đọc truyện của Hawthorne chưa, anh Melville?
Giờ có một nhà văn rồi.
Một nhà văn vĩ đại.
Đúng thế.
Nhưng ông ấy không có ở đây. Còn tôi thì có.
Vì vài lý do của bản thân.
Tôi sẽ kể anh nghe về tàu Essex. Tôi tin anh sẽ thất vọng.
Nhưng mỗi lời tôi nói đều là sự thật.
Chuyện của con tàu Essex là câu chuyện về hai người đàn ông.
Thuyền Trưởng George Pollard và thuyền phó của ông ta,
Owen Chase.
Owen à. Anh không muốn bị trễ đâu.
Anh sẽ có mặt ở đó.
Với cả, không thể để con gái ta ngủ dưới mái nhà dột, phải không?
Sao anh chắc là con gái chứ?
Phải vậy thôi.
Để nó nhắc anh vì sao anh yêu một kẻ cứng đầu như em.
À, nếu là con gái, thì nó giống anh, chứ không phải em.
Tóc vàng và quyết tâm chinh phục thế giới.
Em cho là sau hôm nay, anh sẽ đổi chiếc áo đó lấy một bộ đồng phục.
Phải.
Ra khỏi chỗ bé nhỏ bụi bặm để vào nhà một thuyền trưởng mà em đáng được hưởng.
Em không cần một căn nhà trong thị trấn với đám hàng xóm chán ngắt.
Ở đây có đầy chỗ cho ba chúng ta.
Em biết không, đôi khi sự tử tế và thiện lương của em
thật không thể chịu nổi.
Anh đi nhận chức thuyền trưởng đi.
- Anh đặt bao nhiêu? - Tôi đặt 1,9 đô.
Tôi có 1.000 ga-lông với giá hai đô.
Tôi sẽ lấy 40 phần.
Cá Nhà Táng
Người bán. Người bán. Ở đây.
Tàu Criterion trở về với một mẻ lớn.
Với 1.600 thùng.
Một kỷ lục mới.
Giá 50 bảng Anh cho dầu cá nhà táng ở thị trường London.
Chúc mừng anh.
- Chào buổi sáng, anh Chase. - Ông Mason.
Mời vào.
Cộng sự của tôi, Benjamin Fuller.
- Chào buổi sáng, thưa ông. - Ngồi xuống đi.
Anh Chase à.
Tôi mong anh hiểu chúng tôi hài lòng với những gì anh đã làm
cho chúng tôi những năm qua.
Cảm ơn ông.
Giờ, một trong những con tàu của chúng tôi, Essex,
vừa được đại tu và sắp sửa ra khơi.
Bây giờ, đã đầu tư vào nó khá nhiều,
chúng tôi muốn bảo đảm nó nằm trong tay người giỏi nhất.
Vì vậy, chúng tôi rất hân hạnh mời anh giữ một vị thế trên tàu.
Như là thuyền phó.
Thuyền phó ư?
Ông Mason, ông đã hứa sẽ cho tôi chỉ huy một con tàu sau chuyến đi vừa rồi
khi tôi đã đem về cho ông 1.500 thùng,
Ông còn nhớ chứ? Ông đã hứa với tôi mà.
Giờ lời hứa đó phải hoãn lại rồi.
Như những người khác, gần đây chúng tôi gặp khó khăn.
Không bao giờ khi có tôi.
Hiện nay Nantucket đang chiếm ưu thế ở thị trường thế giới.
Điều đó phải được giữ vững.
Đây không phải lúc để thử nghiệm.
Tàu Essex sẽ được George Pollard chỉ huy,
con của một gia đình săn cá voi có tiếng.
Cha anh ta cũng là nhà đầu tư của chúng tôi.
Huyết thống, anh Chase à.
Dù anh có có kinh nghiệm qua bao nhiêu chuyến đi nữa,
thì huyết thống vẫn luôn thắng.
Phải, huyết thống sẽ không đổ đầy dầu vào con tàu đâu, ông Mason.
Để chỉ huy thành công, thuyền trưởng cần sự tôn trọng.
Nếu quân không tôn trọng anh ta thì sao?
Anh phải bảo đảm họ tôn trọng.
Chúc một ngày lành, quý ông.
Tôi hiểu sự thất vọng của anh,
nên, anh sẽ được 1/15 lợi nhuận.
Tôi chưa từng trả cho thuyền phó nào nhiều đến thế đâu.
Và nếu anh mang về 2.000 thùng dầu,
tôi hứa với anh,
lần sau, anh sẽ là thuyền trưởng.
Trước kia ông đã hứa với tôi rồi, ông Mason à.
Không, lần này, tôi cần hợp đồng rõ ràng.
Thuyền trưởng Pollard.
Chúng tôi vừa đối thoại thành công với anh Chase.
Anh ấy hân hạnh phục vụ dưới quyền anh.
Tôi mừng khi nghe điều đó.
Giờ anh sẽ phải trông coi một tay mơ.
Một kẻ nhạt nhẽo nhà Nantucket,
được sinh ra trong nhung lụa.
Em biết không, lẽ ra anh nên từ chối họ.
Tại sao chứ? Giờ anh có thỏa thuận bằng văn bản rồi mà.
Phải, nhưng lời hứa của kẻ nói dối thì vô giá trị, kể cả là trên giấy.
Dù anh có làm thuyền trưởng một tàu buôn thì em vẫn yêu anh vậy.
Và anh sẽ không phải đi biệt hai năm.
Anh sẽ không đi hai năm đâu.
Tàu cá Bedford vừa trở về tuần qua sau ba năm đấy.
Con tàu mất hai thuyền viên mà chẳng đầy nổi nửa khoang.
Ừ, họ đến từ Bedford, và trên tàu không có anh.
Khốn kiếp.
Anh sẽ làm thuyền trưởng con tàu riêng của anh.
Một tàu đánh cá voi.
Cứ dựa vào họ, ta chỉ có được mảnh đất nhỏ bụi bặm này,
và điều đó sẽ không xảy ra, Peggy.
Đó là lời của cha anh, không phải của anh.
Lời của ông ấy có gì sai?
Ông ấy muốn nhiều thứ cho gia đình và bản thân.
Ông ấy là kẻ mơ mộng, Owen à.
Phải.
Mơ về biển và không bao giờ phải ra biển
bởi vì những người như họ.
Ít nhất ông ấy cũng thấy các con sinh ra.
Anh chỉ biết có vậy.
Em xin lỗi.
Em đã lấy thợ săn cá voi.
Này.
Anh sẽ trở về nhanh thôi, anh thề đấy.
Cứ về là được.
Hứa với em đi.
Anh đã thề với em rồi. Giờ em còn muốn anh hứa nữa à?
Anh hứa.
Con trai, cha muốn nói chuyện với con.
Là một thuyền trưởng, con không thể là một người bạn.
Con là sếp của họ.
Đừng bao giờ quên điều đó. Đừng bao giờ để họ quên điều đó.
Cảm ơn, thưa sếp.
Ông cố con và vài người khác đã tạo ra ngành công nghiệp này.
Không có chúng ta, không có con, thế giới sẽ chìm vào bóng tối.
Con hy vọng sẽ đem lại vinh dự cho gia tộc Pollard, thưa sếp.
"Lạy Chúa, Ngài đã tạo ra loài cá voi vĩ đại,
loài quái thú kỳ diệu có chiều dài vĩ đại.
Vượt qua sức mạnh có thể đo đếm.
Nhưng, Chúa vĩnh hằng, Ngài đã chỉ định
cho chúng con, những kẻ nghèo đói yếu hèn nên kết hợp lại
chính chúng ta, vợ và con cái chúng ta để duy trì,
loài quái thú đáng sợ này với một cơn thịnh nộ.
Ôi lạy Cha, hãy chiếu ánh hào quang của Ngài lên những người này.
Cho họ một chuyến đi thành công,
cho họ trở về an toàn và với một con tàu đầy ắp.
Để những ngọn lửa trắng của dầu cá voi Nantucket
có thể tiếp tục giữ ánh sáng trong nhà chúng con,
những đường phố an toàn khỏi tội ác trong đêm,
và tiếp liệu cho các cỗ máy của nền công nghiệp,
đã đưa đất nước vĩ đại của chúng con tiến về phía trước
như sự tiến hóa của loài sinh vật cao quý chúng con.
Chúng con xin cầu nguyện nhân danh Ngài."
- Vậy, vào tháng nào nhỉ? - Gần cuối năm.
Chúng tôi là con tàu cuối cùng ra khơi,
đó là lý do tại sao Barzillai bạn tôi và tôi có một chân.
Anh biết không, lúc đó tôi 14.
Mới 14.
Nickerson, đứng lớ ngớ ở đó, cậu kia. Đi đi.
Lần đầu tiên đi biển. Sợ, nhưng sợ hơn nếu để lộ ra.
Barzillai năm đó 17 tuổi.
Những đứa trẻ mồ côi. Lớn lên ở bến tàu.
Cả hai đều mong sớm được gọi là đàn ông.
Grubs, họ đang đeo mấy cái ghim gì đó vậy?
Đó là miếng ghim cá voi, Thomas.
Làm sao để có một cái?
À, cậu phải phóng giáo vào giết chết
con quái thú lớn nhất Trái đất này.
Nickerson, lấy cái thứ màu xanh đó cho ông Bond đi, ở đó.
Làm nhanh lên, chết tiệt.
Một ngày kia tôi sẽ có cả tá cái đó.
Tay quay sẵn sàng và buồm đã hạ, thưa sếp.
- Anh Joy, đây chỉ là nửa lệnh của tôi! - Để chúng trên mấy thùng ở tầng đáy.
Chà, chà, anh ở trên tàu này chỉ có một ý nghĩa thôi.
Phải, ít nhất có một người trên tàu này
biết sự thật về Owen Chase.
Không, rằng tất cả các tàu khác đã tiêu tùng.
Lúc này.
Tôi đã thay đổi rồi, Owen.
Câu hỏi là, có thật không?
Đừng nói với tôi là Matthew Joy đã bỏ rượu rồi nhé.
Tỉnh táo hơn bao giờ hết.
Thế Owen Chase đã bỏ tính nóng nảy chưa?
Yên bình lắm rồi.
Thấy thì mới tin được.
Và với thuyền trưởng của ta,
tôi cá anh sẽ bình yên được khoảng 48 tiếng?
Chúc may mắn.
Pollard. George Pollard.
Owen Chase.
"Chase." Đó là cái tên người xa bờ, phải không?
Đúng thế.
Và rất ngắn thôi, chúng ta sẽ xa bờ một thời gian,
và tôi sẽ thoải mái như ở nhà.
Phải nói là tôi đã ngạc nhiên.
Thường thì thuyền trưởng được chọn thuyền phó.
Đúng, nếu là người có kinh nghiệm.
Dĩ nhiên, anh có thể hiểu trên quan điểm của chủ nhân,
họ muốn vốn đầu tư của họ được đặt vào đúng người.
Chắc chắn rồi.
Có lẽ họ muốn chắc ăn hơn, thế thôi.
Vậy, hãy để ý đến tôi và cho tôi biết nếu tôi có làm gì sai.
Chắc chắn rồi, thưa Thuyền trưởng.
Anh Chase, kéo bớt dây neo lên.
Ngả về phía gió. Cho người lên cột buồm.
- Rõ. - Anh Lawrence, cầm lái.
- Rõ. - Anh Joy, căng buồm.
Anh Cole. Anh Chappel. Chờ ở buồm trước, buồm sau.
Căng buồm tiến phía trước và buồm trên trước và buồm đỉnh.
- Nào, nhanh lên, tất cả. - Nào, Nickerson. Khi cậu còn trẻ.
Hãy thả góc dưới, phần giữa và dây kéo đi.
Kéo buồm trên và buồm đỉnh.
- Chỉnh tay quay. - Chỉnh tay quay.
Kéo buồm trên lên.
Kéo dây căng góc và giữa buồm.
Có tiếng cọt kẹt ở cuộn dây, thưa sếp.
Anh Chappel, giữ lái đi.
Nó vẫn còn kêu, ngài Chase.
Thôi nào. Sao mấy cái niềng kia không mở ra?
Anh Ray, mấy buồm chính của tôi đâu?
Rõ, thưa sếp.
Bẻ tay quay đi.
Bẻ tay quay đi, thưa sếp.
Nickerson, kéo đi.
Kéo buồm lên, chết tiệt.
Chúa và mọi người ở Nantucket đang dõi theo đấy.
Nhổ neo.
- Thuyền trưởng. Cúi đầu. - Cẩn thận đầu đấy, Thuyền trưởng.
TÀU ESSEX CỦA NHÀ NANTUCKET
Chuyện gì vậy, anh Sheppard?
Cuộn dây bị kẹt vào buồm, thưa sếp.
Không gỡ được, ngài Chase.
Buồm trên bị kẹt.
Không gỡ được dây.
Ta vẫn chưa căng đủ buồm.
Vẫn kẹt.
Đi cẩn thận đấy.
Ở cuộn dây, Owen.
Tránh đường đi.
Khỉ thật.
- Thả buồm. - Lên.
Nhanh lên.
Cùng nhau nào, lên.
Làm hay lắm, anh Chase.
Nếu tới được mũi Verdes trong hai tuần,
chúng ta rất có cơ hội đến Thái Bình Dương đúng lịch trình.
Ngô không, anh Chase?
Không, cám ơn anh.
Chưa bao giờ thích ăn món đó.
Lạ thật.
Nghe nói cha anh trồng ngô ở mũi Cod mà.
Đúng thế.
Như anh có thể tưởng tượng, tôi đã chán phải ăn nó mỗi ngày rồi.
Ngô.
Đậu bắp. Đậu hạt, phải không?
Trước khi ông ấy vào tù.
Anh quen với chuyện này không, anh Joy?
Thưa anh?
Anh có biết rằng
anh Chase đã gần như mồ côi vì cha anh ấy đi tù không?
À, tất cả chúng ta đều có con đường riêng đến với biển.
Như một quy luật, chúng ta không nên hỏi quá nhiều.
Dù sao cũng không dễ đâu.
Cho đến giờ
anh đã được gia đình đi biển nổi tiếng của Nantucket nhận nuôi.
Cái này còn xa hơn lần đầu tiên
tôi bị gọi là một người thổ dân hay người xa bờ bởi người nhà Nantucket,
nhắc nhở tôi rằng tôi không phải là một phần của gia đình đó như thế nào.
Giờ, xin phép Thuyền trưởng,
có thuyền đánh cá và ca trực để chỉ định.
Không, thưa anh. Không dành cho tôi.
- Không một giọt à? - Không, thưa anh.
Như tôi đã nói,
đôi khi hỏi càng ít càng tốt.
Dọn đồ ăn đó lên.
Có cái món rác rưởi này ngay ngày đầu à?
Đồ rẻ tiền. Thịt đâu?
Đó là một cô gái xinh đẹp, Chappel.
Đó, một hình ảnh của sắc đẹp. Được khắc trên xương cá voi đánh bóng.
- Để tôi sờ một cái đi. - Đừng có sờ.
Tôi tưởng anh lập gia đình rồi chứ.
Phải, vợ tôi đây này.
À, đó cũng là mũi của nàng mà.
Chúc mừng, các quý cô.
Việc điều chỉnh buồm hôm nay làm tốt.
Một mớ rối bòng bong trên boong tôi không nghĩ là từng thấy.
Anh Chappel.
- thưa sếp. - Người phóng lao của Thuyền trưởng.
Anh Lawrence, anh sẽ là của tôi.
Rõ.
Và anh Peterson.
Phó phóng lao.
Rõ.
Sẽ có sáu người mỗi thuyền.
Lần tập dượt đầu tiên là ngày mai. Đúng sáu giờ.
Ta chưa tới phía đông Halifax, thưa sếp.
Anh tên là gì?
Coffin. Henry Coffin.
Em họ của Thuyền trưởng, thưa sếp.
Chà, chà, anh Coffin.
Anh nghĩ cá voi biết đó là phía đông Halifax à?
Tôi không biết các anh là ai hay làm sao các anh đến đây.
Vài người các anh có thể đã phạm trọng tội phải trốn lên đây.
Không sao. Tôi không quan tâm.
Nhưng đổi lại, các anh có mặt vì một điều
và một điều duy nhất.
Và đó là dầu cá voi.
Tôi dự tính đổ đầy 2.000 thùng dầu và về nhà nhanh nhất có thể.
Và ngay cả khi thời tiết tốt và không có cá voi, anh Coffin,
ta sẽ vẫn hạ thuyền và tập luyện mọi chiến thuật
cần thiết để bắt cá voi.
Và bất kỳ ai lười biếng sẽ tự mình phải bơi về nhà.
Hiểu chưa?
Rõ, thưa sếp.
Thưa sếp.
Tay mơ.
Lên boong.
Đi đi.
Rồi, rồi, anh thổ dân.
Thomas Nickerson, đúng chứ?
Vâng, thưa sếp.
Cậu biết đấy lúc đầu một số bị say sóng.
Làm ơn kéo tôi lên.
Cách tốt nhất để đối mặt với Vua Neptune, cậu bé.
Xin hãy đưa tôi lên.
Giờ khá hơn chưa?
Khỉ thật.
Thưa sếp, tôi rất xin lỗi.
À, giờ cậu có cái để viết về nhà cho mẹ.
Mẹ tôi được chôn ở Đồi Smith.
Có một bia mộ cho cha tôi nữa.
Ông ấy đã mất ngoài biển trước khi tôi sinh ra.
Đây, đưa tôi cái đó.
Giờ đây là gia đình của cậu, nhóc.
Dù sung sướng hay khó khăn.
Chủ yếu là khó khăn.
Lau sàn tàu đi, nhóc.
Ca xế. Hôm nay các anh sẽ học cần làm gì để trở thành thợ săn cá voi.
Rõ, thưa sếp.
Anh dẫn cái dây đó sai rồi, Nickerson.
Rõ, thưa sếp.
Nếu cần ta sẽ giữ thế này đến khi mặt trời lặn.
Rõ, thưa sếp Joy.
Dây căng buồm đỉnh chính.
Các tay lao, sẵn sàng lên thuyền.
- Rõ. - Rõ, thưa sếp Joy.
Kéo dây buồm đỉnh chính.
Quá chậm, lũ thổ dân chết tiệt.
Gầu múc nước trong thuyền.
Các anh sẽ học kỹ về của con tàu này
- trước khi trở về giường. - Rõ, thưa sếp.
Kéo mạnh dây đó đi, Barz.
- Anh cần phải nhanh hơn, anh Ray. - Rõ, thưa sếp Chase.
Không còn là tay mơ nữa, ngài Chase.
Giờ cậu là một thủy thủ rồi.
Không tệ, anh Ray. Làm tốt lắm.
- Buồm dưới đầu tiên! - Rõ, thưa sếp.
Làm quen đi, các anh. Các anh sẽ làm như trâu thôi.
Anh Chase?
Thưa sếp.
Căng buồm phụ lên đi.
Có nên không? Ta đang gần hải lưu Gulf Stream.
Tốt nhất là giữ tốc độ năm hải lý tới khi nắm được thời tiết.
Ta đã trễ hai ngày rồi.
Ta phải theo kịp lịch trình nếu định bắt luồng gió đông.
Căng buồm phụ.
- Căng buồm phụ. - Rõ, ngài Chase.
- Nào, làm đi. - Thắt dây. Căng buồm phụ.
Lên cột buồm đi, anh Coffin.
- Thuyền trưởng muốn tốc độ. - Rõ.
- Tìm dây chằng. Điều chỉnh để tăng tốc. - Vâng, thưa ông.
Điều chỉnh buồm giữa chính về trước và buồm phụ trên đỉnh, các anh. Làm đi.
Kéo nhanh dây buồm phụ.
Kéo nhanh dây buồm phụ, thưa sếp.
Buồm phụ đã bung rồi, thưa sếp.
Mở buồm đỉnh phía trước, thưa sếp.
Này.
Giờ Thuyền trưởng đã đưa chúng ta đi thật rồi.
Rồi ta sẽ thành công thôi.
Con tàu tuy cũ, nhưng vẫn chạy được, các cậu.
Thưa anh, có bão ở hướng phải mũi tàu. Ta phải hạ buồm xuống ngay.
Chưa cần đâu, anh Chase.
Ta đang tiến thẳng vào vùng bão ở tốc độ trên tám hải lý,
và tàu đang di chuyển nhanh hơn thế.
Cứ để thế đi. Các thủy thủ đã lụi nghề sau nhiều tháng ở trên bờ.
Họ cần được thanh tẩy. Để họ biết công việc đã bắt đầu.
Nếu ta không hạ buồm và đổi hướng, nó sẽ thốc thẳng vào giữa tàu.
Anh Chase, ta sẽ giữ thế này.
Anh Lawrence?
- Giữ nguyên hướng. - Giữ nguyên hướng, thưa sếp.
Ta sẽ mất nửa ngày nếu đi như thế. Ta sẽ đi vòng để tránh bão.
Nếu không chịu nổi cơn gió mạnh thế này, thì ta sẽ thất bại.
Chuẩn bị cho thời tiết xấu.
Bão đang đến, các cậu.
Giữ cho boong an toàn.
Để ý gấp đôi vào mấy cái thuyền.
Chuẩn bị đối phó với thời tiết, anh Bond.
Ta đang tiến vào vùng bão.
Giữ vững buồng chính.
Tàu đang chạy rất nhanh.
Ta phải đổi hướng và chạy theo hường gió.
Ta sẽ giữ vậy, anh Chase.
Anh Lawrence.
- Giữ nguyên hướng. - Giữ nguyên hướng, thưa sếp.
Nước tràn vào tàu.
Giữ vững.
Hạ buồm đi, anh Chase.
- Lựa theo thời tiết và giữ dây buồm. - Lựa theo thời tiết!
Đi theo hướng gió và giữ đó.
- Ta cần hạ mấy cánh buồm đó xuống. - Theo hướng gió.
Nickerson, giữ chặt.
Giữ chặt các dây.
Giữ chặt.
Xoay tàu.
Xoay theo hướng gió.
Không. Quá muộn rồi.
- Xoay buồm trên. Hạ buồm. - Không, quay tàu.
Quay sang bên đi, anh Lawrence.
Muộn rồi. Quá muộn rồi.
- Mạn tàu sẽ bị trúng bão. - Xoay tàu đi.
- Chờ đã. - Xoay.
Xoay mấy cái buồm trên chết tiệt đó đi.
Chờ đã.
Cẩn thận.
Anh Joy.
- Chúng ta phải cắt dây mấy buồm trên. - Cắt dây buồm trên.
Ta phải làm tàu đứng thẳng lên.
Anh muốn gặp tôi, thưa anh?
Vào sáu giờ sáng mai,
anh sẽ tụ tập thủy thủ đoàn.
Báo với họ là ta sẽ quay về Nantucket để sửa chữa.
Rồi anh sẽ xin lỗi họ
vì đã cắt ngang lệnh của thuyền trưởng,
khiến cho mọi người trên tàu suýt mất mạng hôm nay.
Cái gì?
Tôi sẽ bị thôi việc khi về đến cảng.
Vậy thôi.
- Chính anh đã ra lệnh căng buồm phụ mà. - Quyết định đó là hợp lý.
Thủy thủ đoàn cần trải nghiệm.
- Nên anh đã đẩy họ vào một trận bão? - Chỉ là không may thôi.
Không, đó là do điều phối tàu kém.
Và đổ thừa cho vận xui chỉ là sự kém cỏi.
Thật vô lễ.
Có biết đang nói chuyện với ai?
Tên tôi là Thuyền trưởng George Pollard.
Pollard.
Và anh, anh Chase à,
dù anh có bao nhiêu miếng xương cá voi trên áo đi nữa,
thì cũng chẳng là gì ngoài con của một nông dân
kẻ đã cố tìm cách khoác lên mình chiếc áo của một viên chức.
Giờ thì ra ngoài đi.
Quay về cảng mà không có một thùng dầu nào
sẽ là một sai lầm, thưa sếp.
Và cũng không hợp với một người tên là Pollard.
Hay người tên Chase, về việc đó.
Và điều tốt nhất cho cả hai ta là tận dụng thời gian còn sống,
đổ đầy dầu vào con tàu này và về nhà trong vòng một năm
và kết thúc sự đồng hành càng sớm càng tốt.
Tin tôi đi, tôi cũng muốn chuyện đó như anh vậy.
Tất nhiên, đó là quyết định của Thuyền trưởng.
Họ như một cặp vợ chồng không hợp nhau.
Một cặp không hợp nhau sẽ chịu đựng lẫn nhau, anh Melville à.
Nhưng một cặp không hợp nhau cũng có thể làm chìm một con tàu.
Anh lấy vợ chưa, anh Melville?
- Rồi. - Chúa ban phúc cho anh.
Cũng sắp có con đầu lòng.
Vậy, vợ hiền của anh có biết anh đã đem toàn bộ tài sản đến đây
đêm nay và trao cho một người lạ không?
Không, thưa ông.
Anh rất ngạc nhiên, phải không?
Vậy là,
tàu Essex đã không quay về cảng.
Đúng thế.
- Nó tiếp tục ra biển. - Phải, đúng thế.
Và không lâu sau, chúng tôi đã nghe tiếng báo đó
mà tất cả thợ săn cá voi đều mong đợi.
"Xịt nước."
Xịt nước.
Hướng gió thổi.
Nó xịt nước kìa.
Bụng trắng hay nhà táng vậy, anh Ramsdell?
Là cá nhà táng.
Lộn người kìa.
Anh Chase.
Kéo và thả thuyền xuống nước.
Tất cả. Tất cả lên boong.
Tất cả lên boong.
Hạ thuyền.
Hạ xuống.
NAM ĐẠI TÂY DƯƠNG BA THÁNG TRÊN BIỂN
Thẳng tới. Đánh gãy xương sống chúng.
Rõ, thưa sếp.
Tất cả cùng kéo.
Chèo cho đến khi mỏi rã tay.
Chúng đang lên mặt nước kìa.
Lối đó, các cậu. Hết sức lên.
Rõ, thưa sếp.
Nào. Chèo hết sức lên.
Kéo chèo.
Chiều hết sức đi.
Nó xịt nước kìa.
Đó là cá con.
Đó là cá con ư?
Đó là cá mẹ.
Và kia là mục tiêu của ta. Tiền là ở đó đấy.
- Nickerson, đẩy. - Xin lỗi, thưa sếp.
Có được 40 thùng không?
Được 50 thùng đấy.
Nó là kẻ hủy diệt.
Giữ chèo chắc vào, tất cả.
Hết sức đi.
Hết tốc lực.
Chèo mạnh lên, tất cả. Mạnh lên.
Chèo cẩn thận.
- Anh Ramsdell, chuẩn bị dây. - Vâng, thưa sếp.
Anh Lawrence, con đầu tiên là của tôi.
Đưa tôi tới chỗ đẹp nhất.
- Chèo. - Nào. Đi theo nó.
Cậu đang được đi chuyến xe trượt Nantucket đầu tiên đấy, nhóc.
Ôi Chúa ơi.
Nhìn nó kìa.
Sinh vật đáng sợ nhất từng sống trên Trái đất này.
Nó lặn rồi.
Tay tôi.
Ta cần làm ướt dây, Nickerson.
Kéo nào, tất cả. Kéo đi.
Còn lại 140 sải dây, anh Chase.
Còn lại 80 sải, thưa sếp.
Nó sẽ kéo chúng ta xuống mất.
Matthew, tôi cần dây của anh.
Tiếp tục đi.
- Peterson, đưa tôi sợi dây. - Vâng, thưa sếp.
Đưa tôi sợi dây đó, anh Peterson.
Ta chỉ còn lại 60 sải thôi, thưa sếp.
- Còn 20 sải, anh Chase. - Buộc nó lại.
- An toàn rồi. - Đi.
- Peterson, thay tôi. - Rõ, thưa sếp.
Còn bao nhiêu sải dây nữa?
Còn lại 70 sải, thưa sếp.
Không, không, không, chờ đã.
- Owen. - Không, không. Chưa được.
Đừng đụng đến dây đó.
Còn 50 sải, thưa sếp.
Owen, chết tiệt.
Tôi đã bảo là đừng đụng vào nó.
Còn 30 sải, anh Joy.
Còn mười sải, thưa sếp!
Lùi lại.
Chèo.
Máu phụt kìa.
Máu phụt.
Máu.
Lấy dầu nhanh, tất cả.
Chúa ơi. Tránh ra, đồ khốn.
Có mỡ ở trong dầu.
Ngửi đi, các cậu. Đó là chúng ta làm ra tiền đấy.
Ra khỏi đó đi, đồ khỉ.
- Đó, được chưa? - Không có cơ hội đâu.
- Thế nào rồi? - Không tốt.
Được rồi.
- Anh Chase, thưa sếp. - Hả?
Có thế thôi, thưa sếp. Chúng tôi không thể lấy thêm.
Là vàng trong đó đấy, các cậu. Nào, tiếp tục đào.
- Chúng tôi quá to để xuống đó. - Thế thì tìm người có thể.
Nickerson. Lại đây, nhóc.
Này. Tôi bảo lại đây.
Vào trong bụng nó đi.
Nào, Thomas.
Cái trong đó giá trị hơn cái họ đang cô nhiều.
Thưa sếp.
Tôi không thể, tôi...
Tôi xin lỗi. Tôi không thể.
Cậu xuống dưới đó, không tôi sẽ bắt cậu ngủ dưới đó.
Tốt nhất là nên cắn nó, cậu bé.
Mùi dưới đó còn tệ hơn đít quỷ nữa.
Cám ơn anh.
Xin lỗi nhé.
Đây, Nickerson, đem gối của tôi theo này.
Xuống đi.
Một người biết được chính mình dưới đó.
- Họ bắt anh vào đầu cá voi bao giờ chưa? - Chưa.
Tôi được tha.
À, có kho báu ở dưới đó đấy.
Tôi sẽ không bao giờ quên lần đầu tiên đó.
Được 47 thùng.
Tất nhiên, niềm vui rất ngắn.
Vùng biển đó đã bị đánh hết cá à?
Đúng thế.
Vậy nên, chúng tôi đã tiến xa hơn.
Phải.
Chúng tôi mất một tháng để đi quanh Horn.
Bỏ Nam Đại Tây Dương sau lưng với chút hy vọng mong manh
rằng mọi việc có thể trở nên khá hơn.
Nhưng đến Thái Bình Dương cũng không cải thiện được tình hình.
Hình bóng của cá voi quá ư hiếm hoi.
Sau gần một năm trên biển,
mối quan hệ giữa Thuyền trưởng và thuyền phó trở nên căng thẳng hơn.
Thuyền trưởng Pollard ở trong ca-bin hết ngày lãn đêm,
THỨ SÁU NGÀY 23 KHÔNG THẤY CÁ VOI
sợ nhìn vào mắt của thủy thủ đoàn.
Kho của chúng tôi gần như trống rỗng.
Và nhìn vào chút thành quả ít ỏi của mình
chỉ như lời nhắc nhở
rằng còn lâu chúng tôi mới được về nhà.
BIỂN ATACAMES ECUADOR
Không, không. Tôi không tiếng đấy.
- Nói tiếng Anh đi. - Cho tôi thêm.
- Đây, thưa ngài. - Đây, dầu cá voi Nantucket.
- Không con lợn gầy nào giá cao hơn thế. - Thêm đi!
Linh mục bảo chúng tôi viết thư báo tin về nhà.
Ông ấy nghĩ thư từ sẽ giúp được à?
Các góa phụ?
Hay chủ nhân của một con tàu không còn tồn tại?
Ông sẽ sống bao lâu giống Thuyền trưởng này?
Vậy viết đến Tây Ban Nha đi, và cầu xin sự tha thứ,
cho ông và Thuyền trưởng của ông.
Không ai có thể ngăn cản chuyện đã xảy ra ngoài đó.
Và ai sẽ tin, không ai cả. Chắc chắn không phải thân chủ chúng tôi.
Trong nhiều năm, dầu của các ông đã làm giàu cho họ.
Thuyền trưởng. Xin phép nhé.
Dân địa phương nói chuyến đi bị tấn công, thưa ngài.
Thuyền trưởng George Pollard. Tàu Essex.
Thuyền trưởng Clemente Pelaez, tàu Santa Maria.
Anh đãi đồng nghiệp một ly nhé?
Không, không.
Không may à? Bao xa vậy?
Đủ xa để chỉ thằng ngốc mới tới.
Vậy là bao xa?
Một ngàn hải lý dọc theo đường xích đạo.
Vùng Offshore Grounds.
Có cá voi ở đó không?
Nhiều hơn anh từng mơ ước.
Hàng trăm con.
Cả vùng xa hết tầm mắt.
Có thể đổ đầy 3.000 thùng trong một ngày.
Ý ông "có thể" là sao?
Nếu không phải vì con ác quỷ đó.
Một con cá voi.
Trắng như thạch cao.
Dài 30 mét.
Đã đưa sáu thủy thủ đoàn của tôi xuống mồ.
Và số còn lại, đều có gì đó để nhớ đến nó.
Giờ, con cá voi trắng này,
đã móc cả tiền trong túi ông nữa à?
Cám ơn.
Anh tin vụ đó không?
Nếu chúng ta lên đường bây giờ, xuôi theo hướng đông nam
vào lúc chúng ra nhiều nhất và đổ đầy tàu, ta có thể về nhà trong sáu tháng.
Anh nghĩ sao, anh Chase?
Không cần phải chịu đựng tình trạng khó xử của hai ta thêm nữa.
Hoàn toàn đồng ý.
Cứ thế đi.
Lòng tham nuốt chửng thuyền trưởng và thuyền phó của chúng tôi.
Chúng tôi đã lên đường.
Một ngàn hải lý dọc theo xích đạo.
Nơi không ai biết đến, và chỉ toàn phỏng đoán.
Đó là nơi lũ cá voi đã lẩn trốn.
Xa con người hết mức có thể.
Nhưng chúng tôi đã săn lùng chúng.
Nhiều thế kỷ trước, các thủy thủ đã sợ đi tới rìa Trái đất.
Nhưng chúng tôi đã tới ngưỡng đấu tranh tinh thần.
Sự tin tưởng đã thay bằng sự nghi ngờ.
Hy vọng biến thành mê tín mù quáng.
Thuyền trưởng, các thủy thủ đang bàn tán.
Họ vẫn làm thế mà.
Họ không mấy vui vẻ với quyết định đi xa đến thế này của anh.
À, thế anh đã chỉnh họ chưa?
Anh đã nhắc họ mục đích của ta là làm đầy tàu này với dầu cá voi,
và nếu đám cá voi xa 1.000 hải lý, thì đó là nơi ta sẽ đến chưa?
Anh à, làm ơn đi.
Chuyện này thật điên rồ.
Anh đã để chính mình bị ảnh hưởng bởi người đó.
Anh phải quay tàu trở về.
Tôi đề nghị anh xuống lại đó,
trấn an bọn họ, hãy là một thủ lĩnh
và đừng bao giờ lạm dụng đặc quyền gia đình với tôi nữa.
Anh Coffin.
VÙNG BIỂN OFFSHORE GROUNDS 14 THÁNG TRÊN BIỂN
Cái gì vậy?
Nghe xem.
Anh Chase? Tôi thấy một vùng bọt nước trắng.
- Ở đâu? - Bên mạn trái.
- Bắt đầu săn thôi. - Mạn trái, Thuyền trưởng.
- Chúng ở đâu? - Anh có thấy gì không?
Hạ thuyền.
Hạ thuyền. Hạ thuyền đi.
Con ác quỷ ở bờ biển Mê-hi-cô.
Nhấc chèo.
Phóng lao, anh Chappel.
Dính lao rồi. Dính rồi.
Ngay trước mặt, Peterson.
Đừng để nó nhai mái chèo, các cậu. Quay lại nó đi.
- Con cá voi đó à? - Đúng.
- Vậy đó là sự thật? - Phải.
Thật quá đi chứ.
Lật nó lên đi.
Hết tốc lực.
Anh Bond.
Đẩy thanh ngang buồm trước ra sau, hạ dây trục xuống.
Rõ, thưa sếp.
Nó đến rồi, Peterson. Phóng lao đi, phóng đi.
Anh Lawrence, đưa chúng tôi theo hướng gió, tiến thẳng đến đàn cá đi.
Rõ, thưa sếp.
- Tàu bị hư, thưa sếp. - Chúng ta sẽ tìm nó.
Thuyền ngay sát con cá.
Đè thuyền lên nó.
Nó là của ta rồi.
Cái gì thế, anh Lawrence?
Anh Chase.
Khỉ thật.
Tìm anh Law...
Anh Easton.
Bảo anh Lawrence bơm nước ra.
Anh ta đâu?
Ở phía trước bên trái.
Lấy cho tôi mũi lao lớn nhất mà ta có.
Nó muốn đấu à?
Chưa thấy cá voi nào làm thế.
Anh Lawrence, giữ lái.
Anh Ramsdell, buộc chặt đầu dây kia
- vào cột buồm mũi. - Vâng, thưa sếp.
Chỉ cần tôi còn thở, nó sẽ là của tôi.
- Cắt dây. - Coi chừng.
- Thuyền trưởng. - Sao?
Tàu Essex. Nó đang bị nghiêng.
Quay tàu lại.
- Cứu với. - Nickerson.
- Anh Joy. - Đây.
- Đưa tay cho tôi. - Cứu với.
Nickerson.
Anh Chase.
Một con cá voi, thưa sếp. Nó làm vỡ thân tàu.
Sao cơ?
Ta mất Easton mất Sanborn rồi.
Bơm không có tác dụng, thưa sếp.
Chuẩn bị bỏ tàu.
Ta không thể chèo thuyền về nhà được.
Ta phải sửa lại tàu
- và chỉnh đốn lại đoàn. - Rõ, thưa sếp.
Lấy nhiều đồ ăn và nước uống nhất có thể.
Ta sẽ toàn bộ cần nước ngọt mà cậu có thể tìm được.
Nickerson, lấy nhiều nhất có thể.
Barz, đi với tôi.
Chúa ơi.
Đầu tiên là cánh buồm, rồi đến lương thực.
Lấy nhiều đồ ăn nhất có thể, nhóc.
Nhanh lên, các anh.
Nickerson, còn nhiều thùng ở buồng lái.
- Được chưa? - Bánh quy còn khô.
Nhanh lên, các quý ông.
Hạ thuyền.
- Lấy mấy dây cột góc buồm đó đi. - Lên cột buồm.
- Hạ thuyền. Đưa nó xuống. - anh Cole, hạ trục buồm xuống.
Hạ xuống. Tiếp tục hạ xuống.
Khoan đã.
- Nhanh, Nickerson. - Lấy mấy cái buồm đó.
Đây rồi.
Hạ cột buồm đó xuống.
Chúng ta cần thêm buồm. Không đủ nước.
Lấy mấy thùng đó, ngay đi.
Gỡ mớ dây cột đó.
Thêm nước ngọt. Thêm bánh quy. Nhanh nào.
Tôi có thể thấy mấy thùng nữa trong buồng lái.
Benjamin. Nhanh. Nào.
- Đưa tay cho tôi. - Kéo anh ấy lên.
Tôi nắm được rồi.
Bánh quy.
Nhanh nào. Chuyển nó đi.
Nhanh lên, anh Nickerson.
Phải tránh xa chỗ dầu.
Nó đang chìm. Nó đang nghiêng.
Owen đâu?
Nickerson, anh Chase đâu?
Anh ấy vừa ở đây mà, thưa sếp.
- Nào, nhanh lên. - Owen.
- Anh Chase. - Ta phải rời đi thôi.
Nào, ngay đi, các cậu.
Có dầu trên boong.
- Thuyền trưởng. - Anh Chase.
Sếp Chase.
Owen.
Thuyền phó đâu rồi?
- Owen. - Ngài Chase.
- Owen. - Nó sẽ nổ tung.
- Owen. - Ta phải đi thôi.
Không, chờ đã. Chờ chút.
Ngài Chase.
Anh Chase.
Anh ấy đây rồi.
- Đằng này. - Anh Chase.
Chuyển cái đó.
Ngài Chase.
- Đây. - Nắm lấy, ngay đi.
Được rồi.
- Sếp. - Ổn rồi, anh Chase.
Ta đi câu cá chứ?
Lau sạch rồi nạp đạn đi, anh Joy.
Lui xa ra, không nó kéo chúng ta theo mất.
2.000 HAI LÝ TÂY NAM MỸ
Thuyền trưởng.
Còn khẩu phần của ta thì sao?
Một ngày mỗi người được 55 gram bánh quy.
Và nửa cốc nữa.
Này, ta không thể sống với số đó.
Chỉ được vài ngày thôi.
Là nó.
Ừ, chính là nó, đúng rồi.
Anh đừng có lừa tôi, anh Chase.
Anh Coffin?
- Đúng chứ? - Anh đã đưa bọn tôi vào tình cảnh này.
Anh biết anh đã đưa bọn tôi vào tình cảnh này.
- Này. Bỏ xuống. - Anh Coffin, bỏ súng xuống.
- Nói anh sợ đi. - Cái...
Anh Coffin, bỏ súng xuống.
Anh biết sẽ thế nào khi hết đồ ăn, nước uống chứ?
Nghe lời Thuyền trưởng đi, Coffin.
- Tôi chỉ muốn thấy thổ dân sợ. - Anh Coffin, bỏ súng xuống.
- Đó là lệnh. - Nghe lời Thuyền trưởng đi. Ngay.
- Nói đi. Nói đi nào. - Henry.
Nói đi.
Henry.
Bỏ súng xuống.
Henry.
Bỏ xuống.
Ta đi về phía đông.
Quay lại hướng mà chúng tôi đã đi.
Mặc dù chỉ có mặt trời và la bàn bảo chúng tôi như vậy.
Tất cả mọi hướng trông đều giống nhau.
Chúng tôi hi vọng bắt được luồng gió Westerlies để đến Đảo Easter.
Một hành trình dài 3.000 dặm.
Trong 12 ngày, ta đã dạt về phía nam. Sáu độ vĩ.
Ta không gần đảo Easter hơn chút nào.
Ta vẫn ở nguyên một chỗ.
Ta bị nguyền rùa rồi.
Ta sẽ bù lại được khi bắt được luồng giáo.
Ta sẽ bắt được gió.
Chappel.
Giữ anh ấy rồi, Thuyền trưởng.
Anh Joy, dây kéo buồm bị kẹt rồi.
Anh Joy. Anh không sao chứ, anh Joy?
Chộp lấy đòn lái.
- Nắm lấy nó đi. - Matthew.
Hạ buồm đó xuống.
Matthew. Này, có chuyện gì vậy?
Có chuyện gì thế?
Owen. Anh đang làm gì ở đây vậy?
- Để tôi xem nào. - Không, không.
- Nằm yên. Để tôi xem. - Owen, tôi ổn mà.
Bình tĩnh. Để tôi xem.
- Tôi ổn. - Tôi biết. Tôi chỉ muốn xem chút thôi.
Tôi bị đập đầu. Chỉ là vết xước thôi, được chứ?
- Chỉ xước thôi. - Lấy nước cho anh ấy.
- Tôi không cần nước. - Lấy nước cho anh ấy.
Không. Tôi không cần nước. Tôi ổn.
- Ừ. - Cầm lấy. Cầm đi.
Này. Tôi đỡ anh rồi. Đỡ được rồi.
Anh ổn rồi. Ổn rồi.
Này. Mọi người nhìn gì thế? Tôi ổn.
Thuyền trưởng Pollard. Tôi khỏe re.
Rất khỏe. Nghe rõ chứ?
- Owen. - Ừ.
Tôi ổn.
Được chứ? Tôi ổn.
- Cứng lắm, đồ khốn. - Cảm ơn. Tôi ổn. Tránh ra đi.
Anh ấy ổn.
Đi thôi.
Sao lại phí nước cho người chết?
Hai người họ biết nhau, đi biển với nhau từ nhỏ.
Giờ, nói tôi nghe,
anh có thể ngồi đó nhìn anh em của mình chết không?
Đơn giản là vấn đề số lượng thôi, anh Chappel.
Không đủ cho tất cả chúng ta.
Sao lại phí nước cho người chết?
Sao lại phí nước cho...
Sao lại phí nước? Sao lại lãng phí?
Sao lại phí nước cho người chết?
Ông Nickerson?
- Sao lại phí nước... - Ông ổn chứ?
- Tôi không thể. - Không thể gì?
Không, anh...
Anh có đủ rồi. Hơn cả đủ.
Nhưng, thưa ông, ông đã kể nhiều thế.
Ta phải kể cho hết chứ.
Ta đã thỏa thuận rồi, thưa ông.
Cầm tiền và đi đi.
Giao kèo của quỷ dữ.
Không, thưa ông.
Quỷ dữ thích bí mật chưa được nói ra.
Đặc biệt với những con quỷ xuất phát từ linh hồn con người.
Anh có bí mật gì?
Tôi không phải là một nhà văn vĩ đại.
Tôi không phải là Hawthorne.
Và từ lần đầu nghe câu chuyện này, nó đã ám ảnh tôi.
Nó nuốt chửng tôi.
Tôi sợ rằng nếu không viết ra,
tôi sẽ không thể viết được nữa.
Còn gì nữa?
Tôi sợ rằng nếu viết về nó,
nó sẽ không hay như đáng lẽ nên thế.
Xin hãy tiếp tục câu chuyện.
Vì cả hai chúng ta.
34 NGÀY MẮC KẸT
Chuyền đi.
Cảm ơn, sếp.
Cảm ơn Chúa, vì đồ ăn của chúng con.
Tôi xin lỗi.
Vì cuộc sống và sức khỏe,
và mọi điều tốt đẹp.
- Hãy làm mọi cách thức để... - Đất liền.
Đất liền.
- Đất liền. Đất liền. - Đất liền.
- Đất liền. - Đất liền.
Chèo. Nhanh nào. Chèo đi.
Chèo ngay đi. Nhanh nào. Kéo.
- Tôi thấy rồi, anh Chase. - Đúng thế.
Dừng lại. Dừng lại ngay.
- Anh Chase. Sao thế? - Anh Chase.
Cái quái gì thế? Sao lại dừng lại?
- Nó đã bám theo chúng ta. - Sao cơ?
Anh nói cái ì thế?
Chẳng có gì ngoài đó cả, anh Chase. Chẳng có gì ngoài đó, sếp ạ.
Sếp, anh đang làm gì thế?
Chuẩn bị va chạm.
Không.
Nó đâu?
Đây có thể là đảo Ducie.
Không có bản đồ, la bàn hay ê ke, không có cách gì chắc chắn cả.
Ta sẽ đốt lửa cả ngày lẫn đêm.
Hi vọng tàu đi qua sẽ nhìn thấy khói.
Đây là thứ tôi muốn mọi người thấy.
Chắc chắn là họ đã ở đây lâu rồi.
Chờ đợi một con tàu.
Nhưng không có tàu nào tới.
Sẽ không có tàu nào tới.
Nếu ở lại, chúng ta sẽ chết.
Anh nghĩ sẽ ngăn lũ chim nhiệt đới tới đây được bao lâu
khi chúng phát hiện ra trứng của chúng đã bị ăn mất?
Biết trước giờ chết của một người là một đặc ân,
để chuẩn bị cho nó.
Thật xui khi ở xa nhà
mà không có cơ hội chào tạm biệt,
không có cơ hội làm hòa,
không có cơ hội để giải quyết tranh chấp.
Vậy thì ít nhất hãy hay giải quyết chuyện giữa hai ta, Thuyền trưởng.
Thuyền trưởng của cái gì?
Tàu Essex đã mất mà không phải lỗi tại anh.
- Tôi cũng đáng trách vậy... - Anh đâu phải Thuyền trưởng.
Nhưng anh sinh ra để làm việc này.
Tôi có cơ hội chỉ nhờ gia đình.
Chúng ta làm gì đây, anh nghĩ sao, George?
Và chúng ta đã xúc phạm Chúa cái gì khiến Ngài bực tức vậy?
Sinh vật duy nhất đã xúc phạm Chúa ở đây là cá voi.
Không phải chúng ta à?
Với sự kiêu căng, tham lam của mình, nhìn xem chúng ta đang ở đâu đây.
Chúng ta là sinh vật tối cao được tạo ra giống hình ảnh của Chúa.
Những vị vua trần gian mà công việc là
đi vòng quanh cái hành tinh đã được giao cho chúng ta.
Thuần hóa thiên nhiên.
Anh thật sự thấy giống vị vua trần gian sau những gì ta đã trải qua sao?
Ta chẳng là gì cả. Chúng ta là...
Chúng ta là bẩn. Và bụi.
Ta sẽ đi thuyền về hướng mặt trời.
Nếu ta chết, thì với ân sủng của Chúa, ta hãy chết như những con người.
Ta sẵn sàng chưa, anh Weeks?
Rồi, thưa sếp.
Anh Chappel?
Anh Wright?
Tôi không làm được, sếp.
Tôi, Wrights và Weeks,
chúng tôi sẽ ở lại.
Sẵn sàng chưa, Matthew?
Tôi sẽ giúp một tay. Anh phải đứng dậy.
- Không, chẳng để làm gì. Nghe tôi chứ? - Không, chúng ta sẽ về nhà.
Chẳng để làm gì cả.
Cứ đi đã.
Chết tiệt, Matthew.
Không sao đâu.
Vậy, tôi sẽ gửi thuyền đến cứu anh ngay khi về đến nơi.
Khi đó chúng ta sẽ lại chơi bài ở Nantucket, được chứ?
Được.
- Thỏa thuận thế nhé. - Tốt.
Muốn tôi mở cái đó cho anh không?
Tôi nghĩ tôi làm được.
Nếu tôi quyết định uống.
Chúa ở bên anh, người anh em.
Phải, cả anh nữa.
Người anh em Peterson?
Anh đi với chúng tôi chứ?
Anh Peterson?
Tại sao anh không lên thuyền với anh Bond đây?
48 NGÀY MẮC KẸT
Anh ấy...anh ấy đâu rồi?
Pollard?
Anh Lawrence. Anh Lawrence, dậy đi.
Chiếc thuyền kia đâu rồi?
- Pollard. - Thuyền trưởng Pollard.
- Thuyền trưởng Pollard. - Thuyền trưởng Pollard, thưa sếp.
- Pollard. - Thuyền trưởng.
Thuyền trưởng Pollard.
Pollard.
Có chuyện gì vậy?
Benjamin. Anh đang làm gì vậy?
Anh ấy chết rồi.
Thả anh ấy xuống biển, sếp.
Nhìn tôi này.
Nhìn tôi này, Benjamin.
Không thủy thủ tỉnh táo nào lại vứt bỏ cái có thể cứu mình.
Nghe tôi này, cậu bé. Nghe tôi này.
Anh ấy có thể giúp ta.
Chúa ơi. Vị vua thiên đàng của tôi.
Ân sủng của Ngài thật mạnh mẽ và ngọt ngào,
Với đôi mắt mỏi mòn,
các tạo vật của Ngài đang trông chờ Ngài cho thức ăn hàng ngày.
Hồn tôi chết rồi.
Vậy là ta quyết định ăn thịt anh ấy.
Chúng tôi đã chuẩn bị xác.
Đã loại bỏ nội tạng.
Cắt tay chân khỏi thân
và lọc thịt ra khỏi xương.
Sau đó,
chúng tôi đóng cơ thể lại,
và khâu nó lại
với hết khả năng của mình,
và thả nó xuống biển.
Chúng tôi đã ăn tim trước.
Anh phán xét tôi.
Không.
Đó.
Ở đó.
Đã xong rồi.
Đã nói ra rồi.
Và ông chưa từng nói với ai?
Không.
Kể cả vợ ông?
Anh nghĩ bà ấy có yêu tôi không
nếu bà ấy biết những thứ ghê tởm tôi đã làm?
Có. Bà ấy sẽ vẫn yêu ông.
Và nếu anh kể cho em nghe câu chuyện khi ta gặp nhau,
thì em cũng vẫn đeo nhẫn của anh ngày hôm nay.
Sức mạnh của cậu bé đó
vẫn còn trong anh.
Em thấy điều đó.
Ngay cả nếu anh không nhận ra.
Anh có thể kết thúc câu chuyện bây giờ, anh yêu.
Này, ngồi dậy đi.
Nghe này,
ngả đầu ra sau đi.
Nghe này, ta vẫn còn lại vài giọt nước.
Anh đừng bỏ tôi chứ. Chúng ta đang đi về nhà mà.
Anh có gia đình ở nhà không, anh Chase?
Có, tôi có vợ.
Có, và một con trai hoặc một con trái.
71 NGÀY MẮC KẸT 1.200 HẢ LÝ PHÍA TÂY NAM MỸ
Tốt lắm.
- Thuyền trưởng. - Chúng ta sẽ lại rút thăm.
Chúng ta sẽ không làm chuyện đó.
Ta sẽ rút thăm lại.
Anh Ramsdell,
anh sẽ nhận vai trò chỉ huy con thuyền này.
Em họ, nhận nhé?
Anh là...
Anh là thuyền trưởng của chúng tôi. Các thủy thủ cần anh.
Họ sẽ ổn thôi.
Làm ơn đi.
Xin anh. Làm ơn đi.
- Henry. - Ta hãy rút thăm lại đi.
Đây là lệnh đấy.
Nếu anh không làm được, hãy đưa súng cho người khác.
Henry, không, không, không.
Cậu phải giúp tôi, nhóc. Cậu phải giúp tôi.
Chúng tôi kẹt nhiều tuần ở đới lặng gió xích đạo.
Phần đó của Thái Bình Dương giống sa mạc hơn đại dương.
Mặt trời thiêu đốt.
Nỗi sợ hãi của tôi.
Tôi chỉ có thể nghĩ đến
là mọi người sẽ chết, và tôi sẽ là kẻ sống sót sau cùng.
Và tốt nhất như anh Chase đã nói, thì chúng tôi vẫn còn cách đất liền 800 dặm.
Anh Chase.
Thuyền trưởng Pollard.
Rất vui được gặp anh.
Sống sót cũng không mấy vui vẻ.
Chúng tôi cũng vậy, thưa sếp.
Barzillai?
Con tàu thứ ba?
Họ...
Họ đã đi nhiều ngày rồi.
Tôi e là họ đã bị lạc, thưa sếp.
Anh Chase, anh có vị trí tốt nhất.
Chỉ là một con cá voi thôi.
Nó ở đó. Phóng lao đi.
Phóng đi.
- Phóng đi. Phóng lao đi. - Phóng đi.
Phóng đi.
Làm đi.
Giết đi. Nó ở đó.
Phóng lao đi.
Sao anh không giết nó?
Anh đúng là đồ ngốc.
Hải lưu đẩy chúng tôi xa nhau
và đó là lần cuối chúng tôi thấy thuyền săn cá voi của Thuyền trưởng Pollard.
87 NGÀY MẮC KẸT
Một con thuyền.
Gió thổi từ dưới mạn thuyền.
Chúa nhân từ.
90 NGÀY MẮC KẸT 18/2/1821
Anh Chase.
Cha ơi. Cha ơi.
Đừng bỏ con, cha ơi.
Anh Chase.
Anh Chase ơi.
Sếp, nhìn kìa. Nhìn kìa, sếp.
Anh Chase, nhìn kìa.
Tỉnh dậy đi, anh Chase. Đây, tỉnh dây.
Làm ơn tỉnh dậy đi, sếp, đất liền kìa.
Anh Chase, nhìn xem.
Chúng tôi đã được cứu ở đó,
ngoài hòn đảo ở Más Afuera, Chi-lê,
90 ngày sau khi Essex chìm.
Họ cho chúng tôi quần áo cũ.
Cho chúng tôi ăn nữa.
Ban đầu, ăn uống rất khó khăn.
Rất kỳ lạ.
Họ chăm sóc chúng tôi tốt nhất có thể
cho đến khi chúng tôi tìm được thuyền đưa về nhà.
Chuyến đi mất thêm ba tháng nữa.
CẢNG NANTUCKET 11/6/1821
Dường như cả hòn đào tới để xem chúng tôi trở về.
Nhưng không có ai chúc mừng cả.
Chỉ có sự im lặng.
Họ nhìn chúng tôi như ma quỷ hiện hình,
như những bóng ma.
Chúng tôi không nói chi tiết về sự sống sót của mình cho ai cả,
nhưng tôi tự hỏi liệu họ có biết về sự thiếu thốn của chúng tôi.
Có lẽ họ chỉ tò mò.
Chúa ơi.
Anh đã hứa, phải không nào?
Ôi Chúa ơi.
Chào.
Này, cưng. Ai đây vậy?
Phoebe Ann.
Phoebe Ann Chase?
Đây là cha con.
Chào, con yêu.
Đây là cha con.
Ôi Chúa ơi.
Tất nhiên, họ không để anh ấy yên.
Anh Chase và vợ ông khó khăn vượt qua đám người để về nhà
khi anh ấy dừng lại và bị đưa vào văn phòng Hàng Hải.
Có những vấn đề làm ăn cần được giải quyết.
Vậy, về vấn đề đó.
Do mất mát lớn về người và tài sản trong chuyến đi của chúng ta
có lẽ sẽ có một cuộc điều tra.
Và là Thuyền trưởng và phó, chúng ta sẽ phải trả lời
- về chuyện đã xảy ra. - Tất nhiên rồi.
Và sau khi đã bàn với các chủ tàu và cha tôi,
rõ ràng là việc tiết lộ toàn bộ sự việc sẽ gây ra chia rẽ.
Sự chia rẽ kinh khủng đối với toàn bộ nền công nghiệp.
Một con cá voi đã hạ gục tàu Essex.
Nhưng đó là sự thật.
Nếu các nhà bảo hiểm và đầu tư
bắt đầu lo lắng về việc quái vật biển làm chìm tàu,
các thủy thủ rút thăm để tồn tại...
Chúng ta làm trong ngành dầu mà.
Tất cả chúng ta.
Và như trong bất kỳ ngành nào,
xác xuất thành công phải luôn luôn lớn hơn rủi ro.
Vậy, anh đề nghị gì đây, George?
Rằng anh nói con tàu đã mắc cạn.
Đó là nói dối.
- Và những người đã chết, là chết đuối. - Và đó là một lời nói dối nữa.
Nghĩ đi. Họ sẽ cho anh làm thuyền trưởng.
À, tôi đã có lời cam kết bằng văn bản rồi.
Chỉ trong điều kiện anh đem về một tàu đầy dầu thôi.
Cách này, vụ đó được bảo đảm.
Anh sẽ trở thành một người giàu có.
Cái tên Chase không còn là tên của một kẻ thổ dân nữa,
mà là một cái tên nổi tiếng
trong số những gia tộc lớn của Nantucket.
Ông muốn tôi che giấu những gì đã xảy ra vì lợi nhuận à?
Chúng tôi đang yêu cầu anh thực dụng.
Chiếc Essex đã bị một con cá voi trắng quật nát.
Và chúng tôi đã sống sót trong những thuyền đánh cá voi tồi tàn
đã phải làm những việc ghê tởm để tồn tại.
Và, khi trở về, ông muốn chúng tôi loan truyền những lời dối trá lộ liễu
để các ông, những chủ tàu của Nantucket,
có thể kiếm thêm nhiều tiền và yên giấc hằng đêm à?
À, tôi sẽ không che giấu sự thật đâu.
Anh cũng vậy, George.
Đó là lần cuối tôi thấy anh ấy...
Anh Chase, sếp ơi.
Tôi đã không tìm được từ thích hợp để nói điều tôi muốn.
Thomas.
Có lẽ là chẳng có từ nào hợp cả.
Tôi sẽ lên đường tới Falmouth và...
đó...
Đó là một vinh dự khi được ra khơi cùng anh, sếp ạ.
Là vinh dự của tôi mới phải, anh Nickerson.
Đây.
Chúc cậu may mắn ở đó, Thomas.
Anh cũng vậy, thưa sếp.
Ngày hôm sau, George Pollard đã được gọi đến trước ban điều tra.
Các ngài, Thuyền trưởng George Pollard.
Và mọi nhân vật quan trọng ở Nantucket đều ở đó.
Đó là thủ tục.
Chúc một ngày tốt lành, Thuyền trưởng. Mời ngồi.
Để ghi chép, vậy thì...
Tàu Essex đã bị một con cá voi trắng quật nát 1.200 hải lý phía tây Ecuador.
Như thể chính Owen Chase đã nói ra vậy.
Nói với họ sự thật.
Lương tâm của Thuyền trưởng Pollard được nhẹ nhõm.
Nhưng cuộc điều tra chỉ là một trò bịp.
Pollard đi biển trở lại,
tìm kiếm con cá voi trắng đó.
Anh ấy không bao giờ tìm thấy nó.
Anh ấy đi con tàu thứ hai bị mắc cạn ngoài Hawaii.
Bị xui tận hai lần.
Không bao giờ ra khơi nữa.
Còn Owen Chase?
Anh ấy là người giữ lời.
Đầu tiên, anh ấy cử một con thuyền quay trở lại Đảo Ducie.
Anh Joy đã qua đời.
Nhưng kỳ diệu thay, ba người kia vẫn còn sống.
Rồi sao?
Và rồi anh ấy cùng gia đình chuyển đến New Bedford.
Làm lại từ đầu.
Trở thành Thuyền trưởng tàu buôn,
đi biển theo ý của chính mình.
À, hẳn anh đã có được thứ đáng với số tiền của anh rồi, anh Melville ạ
Những đêm tháng Hai này là dài nhất trong năm.
- Cả hai người giờ có thể nghỉ rồi. - Tin tôi đi,
tôi sẽ không thể nghỉ ngơi một thời gian.
Tại sao?
Anh đã có câu chuyện của mình.
Anh biết đấy, anh có cốt truyện. Tất cả đều ở đó.
Có lẽ nó không phải là cốt truyện mà tôi muốn.
Không. Thế là gì?
- Một thứ khác mà đêm nay ông đã cho tôi. - Và đó là gì?
Sự dũng cảm để đến nơi mà không ai muốn đến.
Anh Melville,
điều anh đã nghe, điều tôi đã nói với anh,
tất cả đều phục vụ cho cuốn sách của anh à?
Nó sẽ là một tác phẩm viễn tưởng, ông Nickerson,
lấy cảm hứng từ sự thật.
Nhưng tôi không tin tôi cần phải dùng toàn bộ câu chuyện.
- Cảm ơn. - Đây.
- Cầm nó đi. - Không. Đó là tiền của ông. Năn nỉ đấy.
Tôi năn nỉ anh giữ nó.
Và tôi năn nỉ một người tỉnh táo trong cuộc trò chuyện này.
NHÀ TRỌ THOMAS NICKERSON
- Vậy anh trở về... - Pittsfield, Massachusetts.
Chúc may mắn.
Cảm ơn.
Anh biết không,
tôi nghe nói một người từ Pennsylvania mới đây đã đào hố đất
và tìm thấy dầu.
Không thể nào.
Tôi cũng nghe thế.
Dầu từ dưới đất.
Ngạc nhiên thật.
Gọi tôi Ishmael.
HERMAN MELVILLE HOÀN THÀNH TIỂU THUYẾT NĂM 1850.
MỘT NĂM SAU MOBY DICK ĐƯỢC XUẤT BẢN.
VỀ MOBY DICK, NATHANIEL HAWTHORNE NÓI,
"NÓ LÀ BẢN THI CA HÙNG TRÁNG CỦA HOMER. NÓ SẼ LÀ BẢN ANH HÙNG CA CỦA NƯỚC MỸ."
Dịch bởi: Hồ Thu Phương
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.