Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG PHẦN II
Tháng 7/1941, Hitler xâm lược Liên Bang Sô Viết.
Chiến thuật chớp nhoáng blitzkrieg của Đức dường như không tài nào chặn nổi.
Giờ đây hy vọng duy nhất có thể cứu được Kiev là “Phòng tuyến Stalin”...
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011. Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh
Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
Một đơn vị bộ binh mô-tô đang phóng qua miền Tây Ukraina,
1. TRẬN KIEV. - bất ngờ lọt giữa làn đạn súng máy.
Đám lính sống sót vội nằm rạp xuống tránh đạn.
Lính Đức cứ tưởng họ gặp phải đám chặn hậu của một đơn vị Hồng quân rút chạy,
nhưng họ sớm hiểu ra đó không phải quân chặn hậu.
“Ngưng bắn. Lùi lại”.
“Đó là một lô cốt”.
Đạn súng máy bắn ra từ một lô cốt bê-tông được ngụy trang thành nông trại.
Lính mô-tô Đức đã gặp phải Phòng tuyến Stalin.
“Đại đội 1 tổ chức thế phòng ngự”
Vào thập niên 1930, những tường lũy pháo đài
đã phải nhường chỗ cho
các tuyến phòng ngự với các ụ lô cốt pháo đúc bê-tông,
các tháp quay gắn trọng pháo
và chướng ngại vật chống tăng.
Người Pháp xây Phòng tuyến Maginot,
Phần Lan xây Phòng tuyến Mannerheim,
còn người Đức có Phòng tuyến Siegfried.
Liên Xô cũng xây phòng tuyến cho riêng mình ở mặt trận phía Tây.
Báo chí nước ngoài gọi nó là Phòng tuyến Stalin.
Trong thực tế, đó không phải là một phòng tuyến liên tục mà là một chuỗi các cụm công sự.
Chiều dài đường biên giới quá lớn khiến tại một số nơi
tuyến phòng ngự chỉ gồm vài ụ súng máy.
Xe tăng cũ được tháo ra để lấy tháp pháo gắn lô cốt.
Phòng tuyến này được 13 tuổi khi quân Đức xâm lược
và gần như chỗ nào cũng thiếu phương tiện chống tăng hiện đại.
Sau khi Liên Xô xâm lược Ba Lan năm 1939,
Phòng tuyến Stalin bị rút hết quân số và khí tài.
Lực lượng này bị chuyển đến tuyến phòng thủ mới xây xa hơn về phía Tây dọc theo đường biên giới mới.
Khi Đức tấn công, Phòng tuyến Stalin được vội vàng tái bố trí quân.
“Đây là hầm pháo”.
“Tình trạng tốt, nhưng ta cần cọ sạch ống thông hơi.”
Trong tuần đầu tiên của cuộc chiến, đòn tấn công chớp nhoáng blitzkrieg của Đức dường như không tài nào chặn nổi.
Các tướng lĩnh Sô Viết chỉ liều hy vọng rằng quân xâm lược
sẽ bị chặn lại rồi đẩy lui trước Phòng tuyến Stalin.
“Tỉnh dậy Sorov, tỉnh dậy! Mau!”
“Pháo chính, nhắm xe tăng đi đầu”.
“Tầm bắn 600. Đạn xuyên giáp. Bắn!"
Đội quân Đức đầu tiên giao chiến với Phòng tuyến Stalin là Tập đoàn quân Xe tăng 1 (Panzergruppe Kleist).
Nó được chỉ huy bởi một trong những vị chỉ huy kinh nghiệm nhất của Wehrmacht - Ewald von Kleist.
Năm 1941, von Kleist 60 tuổi.
Ông chỉ huy một trung đoàn kỵ binh trong Thế Chiến thứ I.
Giờ đây ông là vị tướng xe tăng cao cấp của Đức.
Năm 1940, Tập đoàn quân Xe tăng của ông đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại nước Pháp,
chọc thủng phòng tuyến Pháp ở Sedan và bao vây quân Đồng Minh ở Dunkirk.
Cuối chiến tranh, von Kleist bị người Mỹ bắt và chuyển giao cho Liên Xô.
Ông bị tuyên án tội phạm chiến tranh và chết trong tù năm 1954.
Phòng tuyến Stalin không làm von Kleist quá lo lắng.
Lính của ông được huấn luyện kỹ để tấn công hệ thống lô cốt địch.
Các đội xung kích Đức được tổ chức gồm 1 trung đội bộ binh,
có tăng cường công binh chiến đấu và pháo nhẹ.
Khi tấn công, bộ binh Đức sẽ tìm cách bọc sườn
hỏa điểm địch để cô lập chúng.
Lô cốt sau đó sẽ bị tấn công từ phía sau bằng bộc phá.
Một chiến thuật khác là bắn súng phun lửa
qua các khe quan sát, giết chết mọi lính bên trong.
Cuộc tấn công của von Kleist chọc thủng Phòng tuyến Stalin đồng thời ở nhiều nơi.
Trên đường tới Kiev, giao chiến kéo dài trong ba ngày.
Sư đoàn Xe tăng số 14 đang trong rừng rậm.
Khi sắp tấn công một cứ điểm Sô Viết, họ bị máy bay oanh kích.
Rồi bộ binh bắt đầu tấn công vào lô cốt.
Từng chút một, quân Đức đánh xuyên qua tuyến phòng thủ Sô Viết.
Ngày 8/7 họ chọc được tới Quốc lộ Zhitomir.
Họ chọc thủng thêm được Ostropol’ ở phía nam.
Đường đã rộng mở để tiến vào Kiev, thủ đô của Ukraina.
Nhưng giờ quân tấn công lại đâm thẳng vào các cứ điểm Sô Viết được ngụy trang kín đáo.
Mỗi lô cốt đều phải đánh chiếm bằng trọng pháo.
Chặng kế tiếp là thành phố Berdichev của Ukraina.
Binh lính Hồng quân sống sót một lần nữa phải rút lui.
Phòng tuyến Stalin chỉ kìm chân được Tập đoàn quân Xe tăng von Kleist có 4 ngày.
Khi tin phòng tuyến bị chọc thủng đến được Tướng Mikhail Kirponos, Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam,
ông chỉ nhận xét: “Chúng ta phải trả giá đắt đầy bất công cho điều này”.
Mikhail Petrovich Kirponos từng nhận danh hiệu Anh hùng Liên Xô, phần thưởng nhà nước cao quý nhất,
vì vai trò chỉ huy trong Chiến tranh Xô-Phần năm 1940.
Năm 1941 ông được giao chức Tư lệnh Quân khu Đặc biệt Kiev.
Kirponos là một tư lệnh tháo vát dũng cảm và đầy sinh lực,
nhưng nhiều người ghen tỵ với đà thăng tiến nhanh của ông.
Sáng ngày 9/7/1941, von Kleist tấn công Zhitomir.
Tham mưu trưởng của Cụm TĐQ Nam đánh điện cho Berlin:
“Tình hình bắt buộc chúng tôi phải tiến tới và cố gắng bất ngờ chiếm lấy Kiev bằng Quân đoàn III Armeekorps.”
Nhưng Hitler lại có những ưu tiên khác.
Ông ta ra lệnh von Kleist rẽ xuống phía Nam để giúp bao vây lực lượng Sô Viết quanh Uman.
Von Kleist chỉ còn có vài ngày để chiếm Kiev.
Thủ đô Ukraina đang lâm nguy.
Tham mưu trưởng Phương diện quân Tây Nam có khách.
Một thiếu tá đem theo tin tức về cuộc tấn công của Đức.
“Xin báo cáo Đại tá!”
“Tôi đem tin. Xe tăng Đức xuất hiện gần Zhitomir.”
Bộ chỉ huy Sô Viết vội đưa mọi lực lượng dự trữ trong tay về Kiev.
Quân dù, các tổ lái tăng không có xe tăng,
những đơn vị lính NKVD (Bộ Nội vụ không thuộc Hồng quân-danngoc),
lính thủy đánh bộ, tất cả cùng tới để giúp bảo vệ thành phố.
Phía Liên Xô biết mũi đột kích đầu tiên của Đức sẽ dọc theo Quốc lộ Zhitomir,
và họ đã sẵn sàng đón đầu nó tại điểm cắt qua sông Irpen’.
“Chúng tới rồi.”
“Sẽ không lên cầu đâu, chúng sợ đó.”
“Nào!”
Quân Đức đã tới Vùng 45 của Kiev,
vùng cuối cùng của Phòng tuyến Stalin và nơi đây đã sẵn sàng đón tiếp quân xâm lược.
Von Kleist đã tới sát Kiev,
nhưng xe tăng của ông cần có bộ binh mới đột phá được tuyến phòng ngự của thành phố.
Vậy mà bộ binh đã bị bỏ xa lại phía sau.
Von Kleist cạn hết thời gian.
Ông ra lệnh quay xuống phía Nam xa khỏi Kiev để bao vây lực lượng Liên Xô quanh Uman.
Trong khi đó, bộ binh Đức vẫn đang đánh xuyên qua Phòng tuyến Stalin ở phía Tây Nam.
Tại đây, cuộc tấn công của họ được yểm trợ bởi loại pháo tự hành mới.
Chúng được bố trí để giúp Cụm TĐQ Nam vượt qua Phòng tuyến Stalin,
đoạn phòng thủ thành phố Vinnytsia của Ukraina.
Pháo tự hành Đức là phát minh của Erich von Manstein.
Năm 1935, ông đã viết cho Bộ Tổng tham mưu Lục quân:
“Pháo tự hành phải hoạt động phối hợp với bộ binh..."
"Chúng không nên xông lên như xe tăng hay tham gia đánh đột kích..."
"Chúng phải yểm trợ bộ binh bằng cách tiêu diệt các hỏa điểm của địch..."
"Chúng không tác chiến tập thể như xe tăng mà được bố trí thành từng trung đội độc lập... "
"Chúng phải nhanh chóng vô hiệu hóa các ụ pháo của địch.”
Năm 1940 Lục quân Đức nhận được cỗ pháo tự hành đầu tiên -
- Sturmgeschütz (Stug) III.
Nó được lắp trên khung xe tăng và gắn pháo 75 mm nòng ngắn.
Nó có dáng thấp và giáp trước dày hơn hầu hết các loại tăng khác.
Khi đối đầu, các pháo chống tăng tiêu chuẩn của Liên Xô gần như không gây hề hấn gì cho nó.
Khi tấn công, vai trò của Stug là tiến tới gần ụ pháo địch
và tiêu diệt chúng bằng cách bắn thẳng qua các khe quan sát.
Stug III trở thành loại thiết giáp được Đức sản xuất nhiều nhất trong chiến tranh (với nhiều biến thể về sau-danngoc)
Nhưng vào năm 1941 chỉ có một số ít hoạt động tại Mặt trận phía Đông.
“- Số 3, Số 3, bắn yểm trợ! - Bên tôi chỉ có súng máy!”
“Số 3, Số 3, nghe rõ không?”
“Chúng tôi gần hết đạn rồi. Nhưng tôi sẽ yểm trợ anh.”
Tuyến phòng ngự của Hồng quân quanh Berdichev bị pháo binh và pháo tự hành Đức nện liên hồi.
“Chú ý, bắn!”
Nhật ký tác chiến của Sư đoàn Sơn cước 4 của Đức đã tả lại cuộc tấn công:
“Sau 3 giờ pháo kích làm mềm phòng tuyến, ..."
"... các đội xung kích bộ binh sơn cước và công binh chiến đấu của ta xông lên trước. ..."
"Vào 9:30 sáng, mọi mục tiêu đều đã được chiếm.”
Phòng tuyến Stalin lại bị chọc thủng một lần nữa.
Các đơn vị Hồng quân còn lại sớm bị kẹp sườn trừ phi rút lui kịp.
Việc phá vỡ Phòng tuyến Stalin dẫn tới một khả năng
bị Tư lệnh Phương diện quân Liên Xô xem như là thảm họa.
Nguyên soái Semyon Budyonnyi, Tổng tư lệnh Bộ Chỉ huy hướng Tây Nam ở Ukraina,
được giao chỉ huy hai Phương DQ (cơ cấu Liên Xô tương đương Cụm TĐQ của Đức).
Ông gửi một báo cáo thẳng thắn đến đáng ngạc nhiên cho Stavka, Bộ Tổng TM Liên Xô đóng ở Maskva:
“1. Việc khôi phục tình hình như trước khi địch đột phá được với lực lượng hiện có ..."
"... là điều không thể."
"... 2. Việc tiếp tục kháng cự của Tập đoàn quân 6 và 12 tại vị trí hiện nay của họ ..."
"... có thể khiến họ bị bao vây và tiêu diệt trong vòng 1-2 ngày.”
Semyon Mikhailovich Budyonnyi, Nguyên soái Liên Xô,
là một huyền thoại Bolshevik và là đồng minh thân cận của Iosif Stalin.
Con trai một nông dân nghèo,
ông vươn lên làm Tư lệnh Quân đoàn Kỵ binh 1 của Hồng quân trong Nội Chiến Nga.
Budyonnyi là một kỵ binh tận tụy,
khăng khăng tin rằng xe tăng không thể nào thay thế kỵ binh,
do đó rõ ràng đã thiếu liên hệ thực tế với chiến tranh hiện đại.
Budyonnyi đề nghị Stavka cho phép rút 2 Tập đoàn quân 6 và 12
về sông Dniepr. Đề nghị này được chấp thuận.
Ban đầu, mọi thứ dường như diễn ra suôn sẻ.
Tướng Hube, Sư trưởng Sư đoàn Xe tăng 16. Panzer Division, đã quan sát như sau:
“Không thể làm gì khác, chúng tôi đành chỉ biết quan sát đoàn xe địch rời xa và chạy về phía Đông.”
Franz Halder, Tổng Tham mưu trưởng Lục quân Đức, cũng chia sẻ sự thất vọng:
“Địch đã tìm ra một đường để rút lực lượng của chúng ngay trước mũi chúng ta..."
"... Sử dụng kỹ năng phản công dữ dội một cách khôn khéo,..."
"... chúng đã thoát khỏi bị tấn công tiêu diệt.”
Nhưng lần này sẽ không còn ai chạy thoát nữa.
Theo mệnh lệnh của Quốc trưởng,
Tập đoàn quân Xe tăng của von Kleist giờ rẽ xuống phía Nam để cắt đứt đường rút của các TĐQ Sô Viết.
Ngày 3/8, cái bẫy sập xuống ở Uman.
Đám quân bị vây chống cự được thêm hai tuần, nhưng họ không còn một cơ hội nào.
Hai tư lệnh tập đoàn quân, Muzychenko và Ponedelin,
nằm trong số 103.000 tù binh Sô Viết.
Hầu hết họ sẽ chết vì đói hay dịch bệnh trong cái gọi là “Hố người”
hay các trại tù binh chiến tranh sơ sài khác của Đức,
tại đó tù binh không hề có nơi trú và rất ít thực phẩm.
Tuy nhiên, Thiếu tướng Ponedelin đã sống sót qua cảnh giam cầm ở Đức.
Khi chiến tranh kết thúc, ông ta được quân Sô Viết giải thoát
nhưng sau đó ông ta và thuộc cấp là Tướng Kirilov bị SMERSH
(Phản gián Liên Xô, thuộc NKVD) bắt.
Sau 5 năm bị hỏi cung có dàn dựng,
Tướng Ponedelin và Kirilov bị xét là phạm tội hèn nhát và phản bội và bị xử bắn.
Trung tướng Muzychenko, Tư lệnh TĐQ 6, cũng sống sót qua trại tù Đức.
Ông này cũng bị SMERSH bắt vào cuối chiến tranh,
nhưng Muzychenko không bị kết tội hay phạm sai lầm nào bởi ông đã bị thương nặng khi bị địch bắt.
Ông được phục chức và được phép tiếp tục nghiệp binh.
Sau chiến thắng tại Uman, TĐQ Xe tăng von Kleist chia ra theo hướng tiến chung về phía Đông.
Tại Cảng Nikolaev, họ đã chiếm được những phần thưởng lớn:
1 thiết giáp hạm chưa đóng xong, 1 tuần dương hạm và 2 tàu ngầm.
Các tổ lái tăng Đức kể rằng có cả một rừng cần cẩu
và tàu ngầm nằm nghiêng trên ụ như bầy cá khổng lồ bị ném lên bờ biển.
Nhưng chỉ huy của họ von Kleist lại không thấy thoải mái.
Ông nghĩ rằng họ đã cách xa so với nơi đáng lẽ phải đến.
Xe tăng của ông đã tiến được hàng trăm dặm.
Đường đi của họ được đánh dấu bởi các nấm mộ của đồng đội và xe tăng cháy trụi của mình,
nhưng họ đã cách xa hơn bao giờ hết so với nơi mà von Kleist nghĩ là
mục tiêu quyết định - Maskva.
Sau chặng tiến quân 300 dặm,
lính bộ binh của Tập đoàn quân 6 Đức cuối cùng đã tới ngoại ô Kiev.
Để yểm trợ, họ có súng phun lửa, trọng pháo và pháo tự hành Stug III.
Ngày 30/7, Tập đoàn quân 6 bắt đầu bài bản tấn công vào tuyến phòng thủ phía Nam thành phố.
Từ hướng này, họ không phải chiến đấu vượt qua sông Irpen.
Hồng quân từ từ bị đẩy lui.
Nhiều đơn vị bị kẹt lại trong lô cốt của họ nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu.
Lô cốt 131 gần Kremenyshche đã đánh lui địch hết đợt này đến đợt khác.
Chỉ huy lô cốt, trung úy 19 tuổi Yakunin
mới được phong sĩ quan có 6 tuần.
Cuối cùng, quân Đức đã phá nổ cửa sau lô cốt.
Không ai bị bắt làm tù binh.
Lô cốt gần đó, Số 127, đã trụ được 3 ngày.
Khẩu đại liên của nó chỉ ngưng bắn khi đã hết đạn.
Khi quân Đức phá nổ cửa để vào,
họ tìm thấy 2 người chết và 3 bị thương nặng.
Những người bị thương bị đưa vào trại tù binh.
Ngày 4/8, quân Đức tăng cường tấn công vào Kiev.
Ở sườn trái, gần Vita-Pochtovaya, quân Đức chiếm được một loạt lô cốt.
Ngày hôm sau họ đánh tới vành đai phòng thủ thứ 2 quanh Kiev,
nhưng mỗi bước tiến đều phải trả giá đắt.
Franz Halder, Tổng Tham mưu trưởng Lục quân Đức, đã cảnh báo:
“Cụm TĐQ Nam đã bị thiệt hại nặng ở Kiev..."
"... Tập đoàn quân 6 mất tới 1.600 người.”
Thiệt hại của Hồng quân cũng thật khủng khiếp.
Các tiểu đoàn dân quân được thành lập và gửi thẳng tới lấp các chỗ hở trên phòng tuyến.
Những người này chỉ được huấn luyện sơ sài có vài tuần,
hầu hết còn chưa được nhận thẻ quân nhân.
Khi chết người ta phải nhận diện họ bằng thẻ Đảng,
hay bằng tên ghi trên bìa vở học.
Ngày 6/8, giữa màn sương dày đặc buổi sáng,
quân Đức bắt đầu tấn công vành đai phòng thủ thứ 2 quanh Kiev.
“Báo động! Quân Đức!” “Khẩu đội về chỗ pháo! Nhanh, nhanh!”
“Khẩu đội sẵn sàng!” Tiến lên! Đi nào, đi nào!”
Trận đánh giằng co, nhưng cuối cùng
Halder trong sổ nhật ký đã có thể ghi lại những tiến triển thực sự:
“Tuyến phòng thủ quanh Kiev đã bị phá vỡ.”
Bộ binh Đức tiến vào ngoại ô Kiev,
Pirogovo, Myshelovka, Rừng công viên Goloseevsky và Trường Kỹ thuật Công cụ của thành phố.
“Phía bên trái là Sân bay Zhuliany.”
“Zhuliany? Cái tên kiểu gì vậy nhỉ? ..."
"... Tiếng Pháp à?” “- Còn phía bên phải là sông Dniepr.”
Quân Đức chỉ còn cách các cây cầu vượt sông Dniepr có vài dặm.
Ở phía Tây, họ đã gần đến Sân bay Zhuliany,
do Lữ đoàn Nhảy dù 5 của Tướng Rodimtsev đóng giữ.
Đội mũ nhảy dù may bằng da, lính dù Sô Viết trông rất giống phi công.
Năm 1941, họ được sử dụng như bộ binh tinh nhuệ.
Họ được huấn luyện kỹ lưỡng và có tinh thần chiến đấu cao.
“Chúng ta sẽ tấn công theo hiệu lệnh, đứng thẳng và chạy..."
"... Không dừng lại, không chúi người trước làn đạn..."
"... Chúng tôi sẽ thu nhặt thương binh sau. Còn hỏi gì không?”
“Bên phải, quay!” “Một. Hai.”
Lữ đoàn trưởng, Trung tướng Alexander Ilich Rodimtsev, là một người lính đầy kinh nghiệm,
đã nhận danh hiệu Anh hùng Liên Xô
vì tham gia Nội chiến Tây Ban Nha.
Bản thân ông là người dũng cảm và hòa đồng với lính.
18 tháng sau, vai trò của ông trong cuộc bảo vệ Stalingrad
giúp tên tuổi ông vang khắp Liên Xô.
Năm 1943 ông được giao chỉ huy Quân đoàn Bộ binh Cận vệ 32
mà ông sẽ dẫn dắt cho đến tận Praha.
Hoàng hôn ngày 9/8/1941,
pháo binh Sô Viết khai hỏa ở gần sân bay.
Mười phút sau, lính dù của Rodimtsev tấn công.
Ban đầu quân Đức nghĩ mình bị phi công trong sân bay tấn công
như một hành động tuyệt vọng cuối cùng của quân Sô Viết. Nhưng họ đã sớm nhận ra là mình lầm.
Đến rạng sáng lính dù đã đánh lui quân Đức được gần 2 dặm.
Quan trọng hơn, họ đã đoạt được cho Kiev khoảng thời gian chuẩn bị.
Mỗi ngày đều có thêm viện binh đến thành phố.
Cũng trong ngày hôm đó, báo cáo của Hồng quân ghi nhận
việc tàu hỏa đã chở tới thành phố Sư đoàn Bộ binh 284.
Những trận đánh ác liệt tại Phòng tuyến Stalin và quanh Uman
ít nhất đã làm chậm bước tiến của quân Đức.
Và mỗi tuần, Hồng quân lại lập thêm các sư đoàn mới ở phía Đông.
Quân đồn trú có tăng cường của thành phố được tổ chức lại thành Tập đoàn quân 37
và thực hiện một cuộc phản công quy mô lớn.
Đến ngày 14/8 họ đã tái chiếm được nhiều vùng phía Nam thành phố.
Lô cốt 205, 206 và 207 được giải cứu
sau khi bị vây suốt nhiều ngày liền.
Hai vành đai phòng thủ trong cùng của Kiev đã được tái lập.
Sau đó vào cuối tháng 8, tình báo Sô Viết
thông báo có sự suy giảm hoạt động của địch quanh Kiev.
Trong khi các trận đánh diễn ra ngoài thành phố, cuộc sống tại Kiev vẫn tiếp tục gần như bình thường.
Vẫn có điện và nước máy. Xe điện và xe buýt vẫn chạy.
Tin tức về diễn biến chiến tranh được kiểm soát chặt chẽ.
Rất ít người nhận ra được tình thế thực sự của thủ đô.
Trong khi đó, một máy bay vận tải Ju-52
hạ cánh tại một sân bay bí mật ở Đông Phổ.
Trong khoang, Tướng Guderian, Tư lệnh Tập đoàn quân Xe tăng 2 (Panzergruppe 2),
đang sửa soạn lần cuối cho cuộc họp với Adolf Hitler.
Guderian tới Tổ Sói (Wolfsschanze: Tổng Hành dinh của Hitler ở Mặt trận phía Đông-danngoc)
để thuyết phục Quốc trưởng rằng ông ta đang phạm một sai lầm chiến lược.
Hitler đang lo lắng về đà tiến quá chậm của Cụm TĐQ Nam,
đáng lẽ đã phải chiếm được vùng nông nghiệp trù phú của Ukraina.
Sự bướng bỉnh kháng cự của Hồng quân ở phía Nam đã tạo ra một vòng cung nguy hiểm dọc chiến tuyến quân Đức,
đe dọa sườn phía Nam của Cụm TĐQ Trung Tâm.
Hitler cũng lo ngại về những cuộc không kích vào vùng giếng dầu Romania,
xuất phát từ căn cứ ở Krym.
Bởi vậy Tập đoàn quân Xe tăng 2 của Guderian phải rẽ xuống phía Nam
để bao vây lực lượng Sô Viết phòng thủ ở đây.
Guderian phản đối kế hoạch này. "Maskva", ông ta khăng khăng, "phải là mục tiêu then chốt."
"... Việc chuyển hướng sang Kiev sẽ làm hao tốn thời gian và nguồn lực quý báu..."
"... Và chẳng mấy chốc mùa đông Nga sẽ tới."
Hitler kiên nhẫn lắng nghe Guderian, nhưng ông ta không thay đổi ý định.
"Các tướng lĩnh của tôi không biết gì về khía cạnh kinh tế của chiến tranh." Ông ta tuyên bố.
Cuộc tranh luận kết thúc.
Guderian sẽ đi xuống phía Nam vào Ukraina.
Trong khi đó, cách Kiev 150 dặm về phía đông nam, quân Đức sắp sửa vượt sông Dniepr.
Họ chỉ gặp phải sức kháng cự yếu ớt.
Cái bàn đạp nhỏ này trên dải bờ sông rộng lớn giờ được mang tên gọi Mấu lồi Kremenchug.
Bộ Tổng TM Liên Xô không xem mấu lồi này là mối họa nghiêm trọng.
Quanh đấy không có cầu nên chỉ có bộ binh Đức qua sông được. Chỉ xe tăng mới là chuyện đáng lo.
Lúc này những xe tăng kia đã lại lên đường.
Phương diện quân Bryansk của Tướng Yeromenko được lệnh tấn công
vào sườn của Guderian khi ông ta tiến xuống phía Nam.
Nhưng Yeromenko chỉ có vài chiếc tăng kiểu lỗi thời,
họ không cách nào chống lại được Tập đoàn quân Xe tăng 2.
Ngày 10/9, Guderian tới được Romny, cách Kiev 130 dặm về phía Đông.
Khi nguy cơ bị bao vây đã lộ rõ,
Phương diện quân Tây Nam của Liên Xô xin được phép rút lui.
Thế nhưng Bộ Tổng TM Stavka lại do dự.
Họ vẫn hy vọng chặn đứng Guderian và cứu được Kiev.
Vẫn còn 180 km ngăn cách giữa hai gọng kìm tấn công của quân Đức.
Gọng kìm phía Nam ở Kremenchug chỉ có mỗi bộ binh
và có thể ghìm chân được.
Xe tăng của von Kleist vẫn còn cách xa phía Nam.
Và lực lượng Hồng quân rút khỏi Kiev rất dễ bị tấn công trên đường rút. Đó chính là điều đã xảy ra ở Uman.
Họ không muốn điều đó xảy ra thêm lần nữa.
Cuộc tranh cãi chiến lược giằng co qua lại,
nhưng sự thật là Stalin không sẵn lòng bỏ lại Kiev cho giặc.
Tập đoàn quân 37 với 100.000 quân sẽ đóng lại thành phố.
(Lúc này Stalin cũng muốn giữ được Kiev để thuyết phục Anh viện trợ vũ khí -danngoc).
Ngày 11/9, Tướng Kirponos, Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam,
đã trao đổi với Nguyên soái Shaposhnikov, Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân.
Ông muốn xin phép rút Tập đoàn quân 37 khỏi Kiev
và dùng nó để chống lại lực lượng quân Đức đang đe dọa hậu phương của mình.
Shaposhnikov nói với ông rằng điều đó không được phép, ông phải tìm lấy đơn vị khác.
Vài giờ sau, cấp trên của Kirponos, Nguyên soái Budyonnyi,
gọi về Maskva với cùng một đề nghị.
"Địch có kế hoạch bao vây Phương diện quân Tây Nam từ hướng Novgorod-Siversky và Kremenchug."
"... Mọi thứ thế là đã rõ."
Budyonnyi đề nghị hoặc được rút toàn bộ lực lượng về phía Đông hoặc cho sơ tán Kiev
để quân đội rảnh tay phòng thủ mặt trận đã rút ngắn.
Nhưng Stavka không nhân nhượng. "Phải giữ được Kiev."
Mệnh lệnh của họ như sau: "Các anh không được sơ tán Kiev ..."
"... hay phá hủy bất cứ cầu cống nào mà không được phép của Stavka."
Nguyên soái Budyonnyi bị cách chức chỉ huy. Ông được thay thế bởi Nguyên soái Tymoshenko
và thay vì rút ra, quân lính được gửi thêm tới Mấu lồi Kiev.
Từng chiếc một, xe tăng Đức băng qua chiếc cầu
dài 2000 m bắc ngang sông Dniepr.
Nhờ công sức của công binh chiến đấu Đức,
Tập đoàn quân Xe tăng 1 của von Kleist vượt qua Mấu lồi Kremenchug
mà tình báo Sô Viết không hay biết.
Khi mặt trời mọc, von Kleist tiến quân.
Bộ chỉ huy Sô Viết chờ đợi cuộc tấn công ở phía Bắc,
nhưng lúc này đòn đánh chết người lại bất ngờ ở phía Nam.
Von Kleist và Guderian sắp bao vây toàn bộ Phương diện quân Tây Nam của Liên Xô.
Ngày 13/9, Tham mưu trưởng của Kirponos, Tướng Tupikov, đã kể lại một bức tranh ảm đạm:
"Chúng tôi không có gì để chống được quân địch..."
"Chúng đã chiếm được Romny và Lokhvytsia...."
"Không thể cản được đà tiến của chúng..."
"Chỉ còn vài ngày trước khi thảm họa xảy ra."
Một lần nữa, Kirponos đề nghị được rút khỏi Kiev trước khi quân của mình bị cắt lìa.
Nhưng Nguyên soái Shaposhnikov đã trả lời:
"Tôi nghĩ phỏng đoán này chỉ là ảo giác, ..."
"... tồn tại chủ yếu trong mắt Bộ Chỉ huy của Phương diện quân Tây Nam và Tập đoàn quân 37."
Suy nghĩ về cuộc bao vây đã trở thành sự thật.
Ngày 14/9, các Tập đoàn quân Xe tăng Đức 1 và 2 đã gặp nhau ở Lokhvytsia.
Họ đã bao vây được 532.000 quân Sô Viết.
Hai ngày sau một đại tá của Stavka bay tới Kiev để đưa Kirponos mệnh lệnh mới.
Giờ khi đã quá muộn và cái bẫy đã đóng kín,
cuối cùng ông cũng được phép rút lui.
Nhưng mệnh lệnh mới lại trái với chỉ thị của Stalin về Kiev.
Kirponos biết có những tướng lĩnh khác đã bị xử bắn vì phạm sai lầm trong tình huống tương tự.
Ông đề nghị có xác nhận viết tay. Ông sẽ không rời khỏi thành phố mà không có nó.
Giấy xác nhận của Stavka tới ngay trước nửa đêm 17/9.
Kirponos lập tức ra lệnh sơ tán Kiev.
48 giờ sau, Hồng quân rời bỏ thành phố
và vượt qua bờ đông sông Dniepr.
Đại tá NKVD Magirin đi cùng ông:
"Đó là một ngày nắng ấm đến ngạc nhiên..."
"Vào khoảng 11 giờ sáng bọn Quốc Xã bắt đầu pháo kích dữ dội vào ngoại ô thành phố..."
"Sau đó chúng tiến lên cầu..."
"Theo hiệu lệnh, cầu Darnytskyi nổ tung. Cầu Bosch cũng nổ tung. ..."
"... Cầu Navotnitsky bằng gỗ giờ bị đốt cháy."
Sau khi phá cầu, Tập đoàn quân 37 rút về hướng thị trấn Yagotin,
nhưng không thể chạy thoát.
Sau 5 ngày chiến đấu, Phương diện quân Tây Nam bị chia cắt
thành những túi vây ngày càng thu hẹp.
"Bắn!'
Một số đơn vị Hồng quân cầm cự được 10 ngày,
nhưng họ bị tấn công từ mọi hướng và không được tiếp tế.
Một số nhóm chiến sĩ tìm cách chạy về phía Đông xuyên qua phòng tuyến Đức.
Họ bị săn đuổi trong các khe rãnh và rừng rậm
bởi các đại đội bộ binh mô-tô Đức, có xe tăng yểm trợ.
Hơn nửa triệu lính Hồng quân bị bắt làm tù binh
trong cuộc bao vây lớn nhất trong lịch sử quân sự.
Chưa đầy 20.000 người chạy thoát.
Ngay cả Tư lệnh Phương diện quân Kirponos cũng không thoát được.
Ông bị giết bởi một mảnh đạn trong khi đang dẫn đầu quân đánh phá vây.
Tham mưu trưởng của ông là Vasily Tupikov, Chính ủy của PDQ Mikhail Burmistenko
và phần lớn Ban Tham mưu của ông cũng cùng hy sinh.
Guderian mô tả Trận Kiev như một thành công chiến thuật vĩ đại,
nhưng ông tự hỏi không biết tầm quan trọng chiến lược của nó ra sao.
Quân Đức vẫn tìm kiếm một đòn hạ gục quyết định.
Guderian và nhiều tướng lĩnh Đức khác
tin chắc rằng đó chỉ có thể là tại Maskva và xảy ra trước mùa đông.
Nhưng liệu có còn đủ thời gian?
Quân Đức tiến vào Kiev ngày 19/9/1941.
5 ngày sau các điệp viên NKVD gài mìn nổ tung
các tòa nhà mà bọn Quốc Xã chọn làm trụ sở hành chính.
Các hoạt động đốt nhà và phá hoại tiếp diễn suốt nhiều ngày liền.
Họ phá hủy các nhà kho, rạp xiếc ở phố Karl Marx và khách sạn Kontinental
là nơi đóng tổng hành dinh quân Đức.
Những đám cháy lớn lan khắp thành phố.
Khám xét diễn ra trên các phố chính của thành phố là chuyện như cơm bữa.
Không ai tìm cách dập lửa và chúng cứ cháy suốt bốn ngày liền.
Bọn Quốc Xã dùng sự việc này làm lý do để gom bắt người Do Thái. "Kiev không có bọn Do Thái".
Ngày 28/9, một bản tuyên bố được dán khắp thành phố.
Nó ra lệnh tất cả người Do Thái phải tới ngã tư phố Melnikov và
Degtarevsky vào 8 giờ sáng hôm sau.
Người Do Thái sẽ phải tái bố trí ở chỗ khác.
Sáng hôm sau, hơn 30.000 người Do Thái ở khắp thành phố đổ tới đây
và bị giám sát bởi lính SS Đức và cảnh binh Ukraina.
Họ bị dong đi dọc phố Melnikov tới khe đất Babi Yar ngoại ô thành phố.
Ở gần khe đất, đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị yêu cầu
cởi quần áo, bỏ quần áo và đồ đạc có giá trị vào các thùng riêng.
Sau đó họ bị dắt tới khe đất theo từng nhóm 10 người.
Hai khẩu trung liên đang chờ ở bờ dốc bên kia.
Trong 2 ngày,
bọn Quốc Xã đã giết hại 33.771 người Do Thái tại đây.
Xác chết được chôn ngay trong khe đất.
Trong suốt 103 tuần lễ, cứ mỗi thứ Ba và thứ Sáu
bọn Quốc Xã lại đưa người tới đây để hành quyết.
Người Do Thái, Ukraina, Nga, Di-gan.
Babi Yar được dùng làm nơi hành quyết trong tròn 2 năm,
từ 29/9/1941 tới 29/9/1943.
Đến mùa hè 1943, bọn Quốc Xã bắt đầu xóa dấu vết.
Tù nhân từ trại tập trung gần đó
phải đào xác lên rồi thiêu cháy.
Các sử gia ước tính có từ 100.000 - 200.000 người
đã bị giết hại ở Babi Yar.
Cuộc tàn sát ấy là dấu hiệu đầu tiên của cái "Trật tự mới"
mà bọn Quốc Xã dự tính đem tới Liên bang Xô Viết.
Cuộc chiến ở phía Đông đã trở thành một cuộc chiến không giống với bất cứ đâu.
Nó giờ đây trở thành cuộc chiến đấu vì sự tồn tại
của toàn thể Liên bang Xô Viết. Họ chỉ có thể hoặc chiến thắng hoặc bị tiêu diệt.
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.