Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.
Tháng 4/1945. Khi cuộc chiến ở Châu Âu đã đến hồi kết,
Stalin đã đồng ý chung sức đánh bại Nhật Bản.
Binh lính Xô-viết sửa soạn để di chuyển về Viễn Đông.
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.
Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga ...
và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
Đội xung kích Xô-viết xung phong giữa đống đổ nát của Königsberg
gồm những lính cựu đầy tự tin.
Họ nấp sau màn khói và các góc nhà, quét quang đường đi
bằng từng loạt ngắn tiểu liên.
ĐÁNH BẠI NHẬT BẢN.
Đó là tháng 4/1945
và Hồng quân đang đánh chiếm cứ điểm cuối cùng
của Đức ở Đông Phổ.
“Chúng tôi đang ở chiến lũy. Số 3. Có đại liên trên tháp ở phía phải.”
“Chúng tôi cần pháo hỗ trợ.”
“Nghe rõ, Số 3. Cố giữ, sắp bắn hỗ trợ!” “Số 3, nghe rõ không?”
Tại Đại bản doanh của Phương diện quân Belorussia 3,
Nguyên soái Vasilevsky đang theo dõi các sự kiện một cách hài lòng.
Ông phân phát huân chương khá hào phóng,
nhưng nhiều thuộc cấp của ông biết rằng,
ông đang chọn trong đầu những người sẽ đưa theo với mình
trong công tác mới.
Ông đã được cho hay sắp phải làm gì.
“Mùa hè năm 1944, ..."
"... tôi được hay rằng sau Chiến dịch Belorussia, ..."
"... tôi sẽ tới Viễn Đông ..."
"... Stalin với tôi rằng tôi sẽ được giao chỉ huy ..."
"... đội quân đi đánh Nhật.”
Stalin đã hứa với các đồng minh rằng ông sẽ chung sức đánh lại Nhật Bản,
trong vòng 90 ngày sau khi nước Đức đầu hàng.
Đổi lại, ông được đảm bảo rằng các đòi hỏi cụ thể về lãnh thổ
của Liên Xô tại Viễn Đông sẽ được đáp ứng.
Trong khi giao tranh đang diễn ra ở thủ phủ Königsberg của Đông Phổ,
Liên bang Xô-viết hủy bỏ Hiệp ước Trung lập
năm 1941 với Nhật Bản.
Hiệp ước này không tác động mấy đến sự căng thẳng giữa hai nước.
Stalin vẫn phải giữ gần 40 sư đoàn đóng ở Viễn Đông
trong suốt chiến tranh.
“Có 2 lô cốt ở bên sườn. Cự ly 3 km.”
“Vị trí này đã được phòng thủ kỹ.”
“Có 3 xe tải tới.”
Việc Liên Xô hủy bỏ Hiệp ước Trung lập
là cảnh báo rõ ràng về dự định của Stalin.
Giờ đây Hồng quân bắt đầu tập hợp lực lượng
tại Viễn Đông.
Các đơn vị mới đến gồm có Tập đoàn quân 53
và Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 chuyển đến từ Tiệp Khắc.
Kinh nghiệm của họ về chiến đấu tại vùng núi ở Romania và Áo,
sẽ cực kỳ có giá trị tại Viễn Đông.
“Samokhin, đừng lăng quăng nữa! Chui vào toa đi.”
“Tớ về đây!”
Một số binh sĩ nghĩ mình sắp được về nhà
sau khi đánh bại nước Đức phát xít,
nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc với họ.
Năm 1931, Nhật Bản đã tấn công Mãn Châu ở Đông Bắc Trung Hoa,
thậm chí trước cả khi Hitler lên nắm quyền.
Điều này dẫn tới xung đột biên giới với Liên Xô
tại Hồ Khasan (gần Vladivostok) năm 1938
và Khalkin Gol năm 1939 (biên giới Mông Cổ).
Nhật Bản đã tiến hành một chính sách mở rộng đế quốc một cách tàn nhẫn,
dẫn đến chiến tranh với Trung Hoa, Mỹ và Đế quốc Anh.
Sau khi Đức bại trận,
Đồng Minh tổ chức hội đàm tại Postdam gần Berlin.
Tại đây, Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa
ra tuyên bố đe dọa Nhật phải đầu hàng,
nếu không sẽ phải đối mặt với việc bị mau chóng tiêu diệt hoàn toàn.
Phản ứng của Nhật là có thể đoán trước.
Thủ tướng Kantaro Suzuki
tuyên bố rằng Chính phủ Nhật không đếm xỉa gì
đến tuyên bố này và sẽ đi tới kết thúc thắng lợi cuộc chiến.
Câu trả lời này dẫn đất nước tới sự bại trận khủng khiếp
chưa từng có tiền lệ.
Tại Sa mạc New Mexico người Mỹ vừa cho thử quả bom nguyên tử đầu tiên.
Ngày 26/7/1945,
tàu ngầm USS Indianapolis chở quả bom “Little Boy”
tới căn cứ Mỹ ở Đảo Tinian.
Hai ngày sau, Tướng Marshall, Tổng tham mưu trưởng Hoa Kỳ,
nhận được lệnh cho phép dùng nó đánh Nhật Bản.
Mục tiêu chính là thành phố Hiroshima,
các mục tiêu dự bị là Kokura và Nagasaki.
Nhiều dân thường đã sơ tán khỏi Hiroshima từ trước,
vì sợ các cuộc không kích. Nhưng vào thời điểm vụ ném bom,
vẫn còn 350.000 thường dân sống trong thành phố. (Ngày 18/6, khi đã có bom nguyên tử trong tay ...)
(... Tổng thống Truman vẫn tuyên bố kêu gọi Liên Xô giúp đánh Nhật-danngoc.)
Ngày 6/8/1945, lúc 8 giờ 15 sáng,
quả bom được thả từ độ cao 9 km.
43 giây sau, cách 600 m trên thành phố,
quả bom phát nổ với sức mạnh bằng 13.000 tấn TNT.
70.000 người bị giết gần như ngay lập tức.
Người ta ước tính rằng ảnh hưởng của phóng xạ
đã giết hại một con số tương đương trong vòng sáu tháng sau đó.
Trong 5 năm sau, tổng số người tử vong lên đến 200.000.
Ba ngày sau người Mỹ thả 1 quả bom plutonium
với sức nổ tương đương 21 kiloton TNT
xuống Nagasaki.
Theo báo cáo của Phủ Nagasaki,
tất cả trong bán kính 1 km đều chết lập tức,
trong bán kính 2 km tất cả nhà đều bị thổi bay,
còn trong bán kính 3 km tất cả những gì cháy được đều bốc cháy.
Đến cuối năm 1945, tổng số người chết ở Nagasaki lên tới 80.000.
Trong năm kế tiếp,
hàng ngàn người nữa chết vì bệnh bạch cầu và ung thư
do ảnh hưởng của phóng xạ nguyên tử.
Vụ nổ 2 quả bom nguyên tử tại Nhật
không lập tức bẻ gãy được ý chí tiếp tục chiến đấu của đất nước này.
Ít người ở ngoài vùng ảnh hưởng biết được thông tin về vụ thả bom.
Các thành viên Hội đồng Tối cao Nhật Bản
vẫn tin họ có thể đàm phán để kết thúc chiến tranh.
Nhưng một cú thảm họa thứ ba đang dần hình thành.
Người Nhật đã phát hiện có việc chuyển quân náo nhiệt
trên tuyến đường sắt Xuyên Sibiri.
Điều này chỉ có thể hàm một ý nghĩa duy nhất.
Quân đội Mỹ vừa kết thúc trận chiến tàn khốc
trên Đảo Okinawa, cách nội địa Nhật Bản 500 km về phía Nam.
Kinh nghiệm này cho họ hay rằng,
một cuộc xâm lược nội địa Nhật Bản sẽ kéo dài và đẫm máu.
Chiến tranh sẽ kéo thêm ít nhất 1 năm nữa.
Nhưng đòn giáng của Hồng quân đầy kinh nghiệm hẳn sẽ là quyết định,
đặc biệt nếu đánh vào một vùng mang tính chiến lược sống còn
của Đế quốc Nhật.
Mãn Châu ở Đông Bắc Trung Hoa chính là một vùng như vậy.
Với Triều Tiên ở phía Nam, vùng này là tối cần thiết
với kinh tế Nhật.
Nền công nghiệp của nó sản xuất ra than đá, sắt, thép,
điện và hơn phân nửa số nhiên liệu tổng hợp của Nhật.
Các nhà máy ở Nhật đã được chuyển tới đây,
ngoài tầm của máy bay ném bom Mỹ.
Việc mất Mãn Châu sẽ khiến Nhật không thể
tiếp tục chiến tranh.
“Anh muốn chúng tôi vượt dãy Đại Hưng An và Mãn Châu bằng xe tăng?”
“Đấy không phải là đường cao tốc Frankfurt-Berlin đâu!”
“Chỉ vài tuần nữa là bắt đầu mùa mưa đấy!”
“Sẽ gặp vấn đề tiếp liệu. Đấy ý tôi là thế …”
Độ rộng lớn của chiến trường này cũng đủ để người ta nản chí.
Mãn Châu lớn bằng cả Đức và Ý cộng lại.
Đồng bằng trung tâm của nó tựa như một pháo đài,
bao bọc bởi các dãy núi,
và khoảng cách hậu cần quá lớn cũng là một yếu tố quan trọng.
Giữa vùng Viễn Đông
với nội địa nước Nga, đường bộ và đường sắt đơn giản là không đủ
để chuyển tất cả quân nhu cho một đội quân lớn.
Lực lượng Nhật ở Mãn Châu,
tập trung vào Đạo quân Quan Đông, đã bị giảm yếu nhiều
để chi viện cho chiến trường Thái Bình Dương, nhưng vẫn còn đến 700.000 người.
Tư lệnh Đạo quân Quan Đông,
Tướng Yamada, biết rằng không thể phòng thủ
toàn bộ tuyến biên giới,
do đó ông ta chỉ bố trí những lực lượng mỏng làm bình phong dọc theo biên giới.
Quân dự bị của ông ta đóng trong nội địa,
gần các ga đường sắt,
sẵn sàng nhanh chóng triển khai khi đã rõ dự tính của quân địch.
Kế hoạch của Bộ Tổng TM Xô-viết,
tóm gọn lại là bao vây Mãn Châu bằng 2 mũi.
Một mũi tấn công từ Mông Cổ, mũi kia từ Vladivostok.
Mũi tấn công phía Tây do Phương diện quân Zabaikal của Nguyên soái Malinovsky,
mũi phía Đông là Phương diện quân
Viễn Đông 1 của Nguyên soái Meretskov.
Khoảng cách giữa 2 phương diện quân là 3.000 km.
Phía trước Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 của Tướng Kravchenko
là dãy Đại Hưng An (Dai Khingan).
Mệnh lệnh mà Kravchenko nhận quy định ông phải vượt qua dãy núi
trong vòng 5 ngày.
Bất cứ chậm trễ nào, hay nếu quân Nhật cho quân tới cố thủ ở các đèo này,
đều có thể khiến toàn bộ cuộc tấn công của Liên Xô phải chựng lại.
Tại Hội nghị Yalta tháng 2/1945,
Stalin đã hứa rằng Liên bang Xô-viết sẽ tham gia đánh Nhật
trong vòng 90 ngày sau khi nước Đức đầu hàng.
Ông đã giữ lời hứa.
Đúng 90 ngày sau khi Đức đầu hàng,
binh lính của Phương diện quân Viễn Đông 1 Xô-viết
đã sẵn sàng tham chiến
Tháng 8 ở Mãn Châu là mùa mưa.
Mưa như trút bắt đầu từ ngày 8/8, ngay trước cuộc tấn công.
Mực nước một số con sông dâng lên 2-3 m.
Mặt đất sớm chuyển thành lầy lội.
Chiến dịch chiến lược tấn công Mãn Châu bắt đầu giữa đêm tối,
trong cơn mưa như trút.
Không có pháo bắn chuẩn bị,
quân Nhật sẽ không được báo trước.
“Thời tiết như thế đấy, mẹ nó! ..."
"... Còn phải chờ lâu không?”
“Còn 34 phút nữa.”
Dẫn đầu cuộc tấn công là các đội xung kích
có pháo tự hành ISU-152 hỗ trợ,
nhưng vũ khí chính của họ là sự bất ngờ.
Các đội xung kích xây dựng quanh
các cựu binh dày dặn kinh nghiệm đã chiến đấu ở Châu Âu.
Để nhận dạng họ khâu các mụn vải trắng lên mũ và quân phục.
Mật khẩu là Petrov.
Vào 1 giờ sáng ngày 9/8,
lính xung kích của Phương diện quân
Viễn Đông 1 bắt đầu tiến công.
Lính trinh sát dẫn đường, rải dây điện thoại để bộ binh theo sau.
“Samokhin, cuộn dây thứ 2 đâu? Nào, lại đây!”
Tại sở chỉ huy, các sĩ quan bồn chồn chờ tin tức.
Nếu cuộc tấn công thất bại, sẽ chuyển sang Phương án B -
một cuộc pháo kích dữ dội.
“Trinh sát sang cánh trái! Còn lại sang cánh phải! Đi, đi! Nhanh, nhanh!”
“Bắt đầu rồi!” (bộc phá nổ-danngoc)
“Chào buổi sáng bọn Nhật nhé!” "Nổ máy!"
Cuộc tấn công đột ngột của Hồng quân vào Mãn Châu
làm quân Nhật hoàn toàn bất ngờ.
Một số lính vẫn còn trong doanh trại.
Những lính lúc đó đang đóng trong cứ điểm mau chóng bị bao vây,
rồi bị lùa ra bằng bộc phá hay súng phun lửa.
Các đội xung kích dùng chiến thuật luồn sâu, bỏ qua các cứ điểm vững chắc của địch
và tiến được tới hơn 20 km trong vài giờ đầu tiên của chiến dịch.
Thành phố Mudanjiang (Mẫu Đơn Giang) là mục tiêu kế tiếp của họ.
Đà tiến của Liên Xô quá nhanh và đột ngột
khiến phải mất nhiều giờ tin tức về cuộc tấn công
mới lọt về Đại bản doanh Đạo quân Quan Đông rồi từ đó về Tokyo.
Bộ chỉ huy Nhật vốn tin rằng Liên Xô
phải chuẩn bị nhiều tuần nữa mới có thể tấn công.
Tướng Yamada tin chắc về điều này đến nỗi ngày 9/8,
ông ta tham dự một hội nghị cách tổng hành dinh của mình hàng trăm cây số.
Phương diện quân Zabaikal bắt đầu tấn công lúc bình minh,
và không gặp nhiều kháng cự.
Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 của Kravchenko đi tiên phong,
với 75.000 người, 6.000 xe cộ,
800 xe tăng và 200 pháo tự hành.
(Hầu hết xe tải của Liên Xô trong chiến dịch này là do Mỹ viện trợ theo Lend-Lease. ...)
(... Trong số khí tài cũng có rất nhiều tiêm kích Airacobra và tăng M4 Sherman của Mỹ-danngoc).
“Còn thuốc lá không?” “Cứ để đám Sherman chạy qua, ta sẽ theo sau.”
Tăng T-34 và tăng Sherman Lend-Lease,
tiến quân bên cạnh các tăng BT-5,
và T-26 kiểu cũ, vốn đóng ở Viễn Đông từ đầu cuộc chiến.
Họ bỏ qua các đơn vị yếu ớt của Nhật trên đường đi,
và tiến được 120 km trong ngày đầu tiên.
Đồng thời một mũi tấn công phụ trợ khác tiến dọc theo tuyến đường sắt Sibiri-Cáp Nhĩ Tân (Harbin).
Khi báo cáo đầu tiên về cuộc tấn công của Liên Xô,
đến được Bộ Tổng TM Nhật,
ban đầu các sĩ quan tham mưu cao cấp không nắm bắt nổi quy mô của chiến dịch.
Yamada nhận được chỉ dẫn phải giữ vững
các khu vực phòng thủ vững chắc của quân Nhật,
và chuẩn bị thực hiện chiến dịch quân sự quy mô lớn.
Nhưng ngày hôm đó có thêm những tin khác nữa.
Từ Hiroshima gửi đến báo cáo chi tiết
về tầm mức tàn phá.
Rồi, vài giờ sau khi Liên Xô tấn công,
có tin về quả bom thứ 2
thả xuống Nagasaki.
Những cú đấm ấy nối tiếp nhau tạo thành cú sốc sâu sắc đối với giới lãnh đạo Nhật.
Thủ tướng Suzuki nói tại một cuộc họp của Hội đồng Tối cao rằng,
việc Liên Xô tham gia cuộc chiến, khiến tình thế trở nên vô vọng.
Không thể tiếp tục chiến tranh được.
Các điều khoản Đồng Minh đưa ra tại Postdam phải được thông qua.
Đêm hôm đó,
cuộc họp được tiếp tục dưới sự có mặt của Thiên hoàng Hirohito.
Nó kéo dài cho đến đầu giờ sáng.
Dưới sự cầm trịch của Thiên hoàng,
Hội đồng cuối cùng thông qua các điều khoản của Đồng Minh,
nhưng họ yêu cầu phải có đảm bảo rằng,
Thiên hoàng được giữ nguyên địa vị của mình.
Điều này bị từ chối.
Chỉ có thể chấp nhận đầu hàng vô điều kiện.
Chiến tranh thế là vẫn tiếp tục.
Ở miền Đông Mãn Châu,
bộ binh tiến lên với chiến thuật khéo léo trước các lô cốt.
Họ đánh bộc phá thổi bay các cánh cửa bọc thép rồi chui vào.
“Bọn Nhật chạy rồi! Chúng chui qua các lỗ ngầm.”
“Dùng lựu đạn!”
“Tổ bộc phá đâu rồi?”
“Ta sẽ cho chúng biết “vô điều kiện” là thế nào!”
Đã thành lệ, họ phá hủy hoàn toàn các lô cốt này.
Nếu không, quân Nhật sống sót sẽ ẩn nấp,
chờ đợt xung kích đầu đi qua,
để quay lại vị trí và tiếp tục chiến đấu.
Các chuyên viên gỡ mìn từng tham chiến ở Đức,
rất bất ngờ trước sự đơn giản của các bãi mìn Nhật.
Chúng chẳng gây cản trở gì nhiều với xe tăng và bộ binh Xô-viết.
Hồng quân gặp phải sự kháng cự mạnh hơn ở phía Bắc,
quanh cứ điểm Hailar (Hải Lạp Nhĩ).
Sau nhiều ngày giao tranh dữ dội,
quân phòng thủ Nhật bị bao vây và rồi không quân vào cuộc.
“Hai độ bên phải. Rẽ.”
“Tiếp cận theo hướng 9-0.”
Hơn 80 máy bay ném bom Xô-viết,
thả 120 tấn bom xuống quân Nhật.
2 giờ sau họ vẫy cờ đầu hàng.
Trong khi đó, Tập đoàn quân Xe tăng Kravchenko
chật vật tiến qua vùng đèo núi.
Những xe tăng nặng 26 tấn bò dọc con đường bộ hành cổ.
Khi đường đi quá hẹp, người ta dùng thuốc nổ
mở rộng ra, hoặc dùng biện pháp hỗ trợ.
Đại úy Dmitri Loza,
chỉ huy một tiểu đoàn xe tăng đi qua vùng núi:
“Hai chiếc xe kéo tăng nối với nhau bằng xích sắt ..."
"... đậu trên đỉnh núi ..."
"... Một chiếc có gắn tời, ..."
"... chiếc kia có chức năng như cái neo ..."
"... Xe tăng được nối với dây cáp tời, ..."
"... cài số 1 ..."
"... Sau đó nó được từ từ thả xuống dốc núi ...
"... Đó là cách chúng tôi đưa xe xuống an toàn.”
Đến ngày 12/8, vùng núi đã ở phía sau lưng họ.
Họ đã sớm hơn 1 ngày so với kế hoạch.
Họ để lại 1 xe tăng BT kiểu cũ ở chỗ vượt sông,
và viết lên tháp pháo của nó:
“Xe tăng Xô-viết đã qua đây. - 1945 - ”
Nhưng khi xe tăng bắt đầu vượt vùng đồng bằng,
có những đốm sẫm xuất hiện ở chân trời.
Máy bay Nhật bay tới tấn công đoàn xe Xô-viết bằng pháo và bom.
Một số còn đâm xuống tấn công tự sát.
Các tổ lái tăng ghi nhận có 9 lần tấn công kamikaze như vậy,
nhưng không một xe tăng nào bị hỏng. (Loza kể rằng trong 1 buồng lái còn có cả 1 phụ nữ ...)
(... bay chung để chịu chết cùng chồng-danngoc).
Xích xe tăng sớm làm hộp số bị kẹt đất bùn,
nên việc hậu cần gặp khó khăn lớn.
2 sư đoàn vận tải với 12 máy bay,
được giao nhiệm vụ chở nhiên liệu tới chiến trường.
Nhưng dù bay 160 chuyến mỗi ngày cũng vẫn không đủ.
Khi đà tiến của Liên Xô đang chật vật, ngày 14/8,
nội các mới của Chính phủ Nhật chấp thuận đầu hàng.
Một thông điệp được gửi tới các chính phủ Anh,
Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Hoa,
rằng theo ý nguyện của Hoàng đế Hirohito,
Nhật Bản chấp thuận các điều kiện mà Đồng Minh đưa ra ở Postdam.
Chiến tranh đáng lẽ phải kết thúc,
nhưng lệnh đầu hàng đến được Đạo quân Quan Đông rất chậm.
Mệnh lệnh Tướng Yamada nhận được,
chỉ hướng dẫn ông ta lập tức đốt hết cờ xí,
các chỉ lệnh và văn bản của đế quốc và mọi tài liệu mật.
Tại Tây Mãn Châu, chiến cuộc ngày càng chênh lệch
khiến nhiều lính Nhật đầu hàng bất chấp.
Tại Đông Mãn Châu,
Phương diện quân Viễn Đông 1 gặp phải tình thế khác hẳn -
bộ binh Nhật xông lên tấn công tự sát.
Một đơn vị đặc biệt với 1.700 lính,
dưới sự chỉ huy của sĩ quan tên Kobayashi,
xông vào giao chiến gần Mẫu Đơn Giang.
Tướng Beloborodov đã chứng kiến cuộc tấn công này:
“Những tên lính quân phục xanh lá ..."
"... nhô lên từ các hố ngụy trang và xông vào xe tăng ..."
"... Lính của ta bắn hạ chúng ..."
"... Chúng bị quét ngã bằng súng máy, ..."
"... nhưng chúng xuất hiện thêm từ các hố cá nhân và chiến hào ..."
"... rồi tự quăng mình vào xe tăng.”
Ngày 15/8/1945,
khi Hoàng đế Hirohito có bài diễn văn trên radio gửi nhân dân Nhật Bản,
tuyên bố quyết định đầu hàng của mình,
xe tăng Xô-viết của Tập đoàn quân 5 đang tiến về Mẫu Đơn Giang.
Ngày hôm sau, Bộ Tổng TM Liên Xô ban hành bản tin:
“Tuyên bố của Hoàng đế ngày 14/8 đề cập đến sự đầu hàng của Nhật Bản ..."
"... là tuyên bố chung về chấp nhận đầu hàng vô điều kiện ..."
"... Vẫn chưa có mệnh lệnh gửi các lực lượng vũ trang để họ ngưng bắn, ..."
"... lực lượng Nhật vẫn tiếp tục kháng cự ..."
"... Điều này khiến chưa có sự đầu hàng.”
Máy bay Nhật đang bay rất lạ.
Nó xà thấp và lắc cánh khi đến gần chiến tuyến Xô-viết.
Các xạ thủ phòng không vẫn theo dõi sát sao mà không nổ súng.
“Nấp đi!”
“Samokhin, quay lại!”
“Có cờ đuôi nheo! Xem này, đây là thư của Hoàng đế!”
Đó là một thông điệp từ Bộ chỉ huy của Tướng Yamada,
báo cho Hồng quân rằng ông ta đã ra lệnh ngừng bắn.
Điều này không mới với Nguyên soái Vasilevsky.
Đại bản doanh của ông đã nhận được điện tín từ Tướng Yamada,
tuyên bố ông ta đã ra lệnh cho lính mình hạ vũ khí.
Một số lính Nhật đã bắt đầu đầu hàng,
gồm cả quân đồn trú khu cứ điểm Hailar,
chốt giữ tuyến đường sắt.
Nhưng các đơn vị khác không nhận được lệnh hay chọn cách lờ đi.
Do đó Vasilevsky gửi Yamada một tối hậu thư:
“Tôi đề nghị rằng trưa ngày 20/8, ..."
"... ông phải ngưng mọi hoạt động quân sự chống lại lực lượng Xô-viết, ..."
"... hạ vũ khí và đầu hàng.”
Chiến đấu trên đồng bằng trải dài có nghĩa tuyến đường sắt là con đường duy nhất,
để xe tăng của Kravchenko di chuyển.
Nhưng 2 ngày hành quân dọc đường sắt thật vất vả cho người và phương tiện.
Mọi hỏng hóc đều khiến cả đoàn phải dừng lại.
“Sao ta không chạy ra đây?” “Động cơ trục trặc rồi.”
“Tôi đã nói bọn thợ máy là nó không chịu nổi thứ bụi này mà!”
“Ra đi! Ta không thừa thời gian cho vụ này đâu!”
Một số xe tăng bị gạt luôn sang vệ đường để có chỗ cho đoàn đi tiếp,
chặng hành quân dài đã gây nên thiệt hại nhất định.
Một quân đoàn đã giảm từ 200 xe tăng xuống chỉ còn 70 chiếc.
Nguyên soái Vasilevsky lúc này ra lệnh phải lập tức chiếm được Changchun (Trường Xuân),
Mukden (Thẩm Dương), Jilin (Cát Lâm) và Cáp Nhĩ Tân (Harbin) bằng các lực lượng đặc nhiệm cơ động cao,
được yểm trợ bằng quân dù đổ bộ.
Ngày 19/8, 7 chiếc Li-2
chở 175 sĩ quan và binh lính bay tới Cát Lâm.
Họ được hộ tống bởi 4 tiêm kích và 3 máy bay ném bom Pe-2.
Bộ chỉ huy Nhật được chính thức thông báo về cuộc đổ bộ.
Nhưng khi chiếc máy bay thứ hai chuẩn bị hạ cánh,
quân Nhật đột nhiên khai hỏa.
Chỉ huy đơn vị, Đại tá Dmitri Krutskikh:
“Tôi đang đứng cạnh máy bay thì bọn Nhật nổ súng ..."
"... Tôi bị một vết thương nhẹ trên mặt ..."
"... Tôi dẫn binh lính xông lên tấn công ..."
"... và chúng tôi chiếm được 8 đại liên Hochkiss cùng 82 tù binh ...
"... Nói thật lòng, chúng tôi tránh không bắt tù binh ...
"... Chúng quá điên cuồng. Đã có thỏa thuận, vậy mà chúng lại nổ súng vào chúng tôi.”
Các đơn vị lính dù đổ bộ 200 người,
cũng tới để kiểm soát các sân bay Nhật ở Cáp Nhĩ Tân,
Thẩm Dương và Trường Xuân.
Trong khi tiêm kích Xô-viết lượn vòng trên đường băng hạ cánh,
các máy bay vận tải thả lính nhảy dù.
24 giờ sau, lính dù được xe tăng Xô-viết tới chi viện.
Ngày 19/8, quân Nhật bắt đầu đầu hàng hàng loạt.
Hầu hết các mũi tấn công đã ngưng lại,
nhưng giao tranh vẫn tiếp diễn trên quần đảo Sakhalin.
Tại đây bộ binh Xô-viết thực hiện cuộc đổ bộ
ngày 20/8. 5 ngày sau,
Hồng quân tiến vào thủ phủ Toyohara (nay là Yuzhno-Sakhalinsk) và tiếp nhận
sự đầu hàng của 18.000 lính Nhật.
Để ngăn việc phá hoại các cơ sở công nghiệp và hải quân quan trọng,
các chi đội của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6
lên tàu hỏa ở Thẩm Dương và tiến xuống phía Nam
tới căn cứ hải quân lớn của Nhật
ở Port Arthur và Đại Liên (Dalian).
Lính dù xuống tiên phong để đảm bảo quân Mỹ không vào đây trước.
Hai đại cường đã tự dẫn nhau vào cuộc Chiến tranh Lạnh sắp tới.
Tại một trong những tiền đồn xa xôi nhất của Liên Xô,
các hải pháo đang hối hả nhả đạn.
Pháo đội duyên hải ở Mũi Lopatka,
đang nã xuống một hòn đảo mờ mờ phía chân trời.
Mục tiêu là Shumshu, cực bắc của Quần đảo Kuril mà Nhật nắm giữ.
Đó là mở đầu cho một cuộc xâm chiếm.
Để đổi lấy việc tham gia đánh Nhật,
Stalin được hứa hẹn các vùng lãnh thổ cụ thể của Nhật,
bao gồm Quần đảo Kuril và Nam Sakhalin.
Ông cũng hướng mắt về Đảo Hokkaido,
nhưng Tổng thống mới lên của Mỹ, Harry Truman cảnh giác trước đề nghị này.
Theo quan điểm của ông, Liên Xô đã được hứa cho quá nhiều,
nên ông đề nghị các tư lệnh của mình tìm cách ngăn chặn
cuộc chiếm đóng đảo của Liên Xô.
Do đó, Stalin quyết định tặng cho Đồng Minh
một ưng thuận giả.
Vài giờ sau khi Hoàng đế Nhật tuyên bố đầu hàng,
Nguyên soái Vasilevsky ra lệnh tiến hành chiếm Quần đảo Kuril.
Chiến dịch xuất phát từ các căn cứ Xô-viết
tại Bán đảo Kamchatka. Mục tiêu khởi đầu của nó
là các đảo Shumshu, Paramushir và Onekotan.
Cuộc đánh chiếm được thực hiện bởi
Sư đoàn Bộ binh 101 của Thiếu tướng Dyakov.
Họ đã được huấn luyện kỹ để đánh đổ bộ
trong hơn 6 tháng trời.
Họ được bổ sung bởi lính thủy đánh bộ và các đơn vị biên phòng NKVD.
Lực lượng đổ bộ có 10.000 người.
Mục tiêu chính là Shumshu, hòn đảo gần Kamchatka nhất.
Mây luôn di chuyển khiến không quân trinh sát Xô-viết không thể hoạt động hiệu quả,
nhưng họ vẫn biết rằng quân Nhật đã xây một phòng tuyến vững chắc,
gồm các lô cốt và bẫy chống tăng,
để bảo vệ căn cứ hải quân trọng yếu ở Kataoka.
Ở cực bắc của đảo,
có rất nhiều lô cốt và pháo đội phòng không
đặt trên xác chiếc Mariupol, một tàu dầu Xô-viết mắc cạn năm 1943.
Quân đồn trú đông 8.500 người
được chỉ huy bởi Thiếu tướng Tsutsumi Fusaki.
Tướng Dyakov chọn cách đổ bộ lên bờ biển phía Bắc.
Dyakov nghĩ rằng việc đổ bộ trực tiếp xuống Cảng Kataoka,
sẽ là quá nguy hiểm,
nhưng kế hoạch đổ bộ của ông cũng có rủi ro riêng.
Nếu quân Nhật kịp đưa viện quân từ hòn đảo Paramushir kế cận tới,
Tướng Fusaki sẽ có trong tay 23.000 quân
gồm cả 16 xe tăng lội nước.
Vào 4 giờ sáng 17/8, lực lượng đánh chiếm gồm 42 tàu,
xuất phát từ Kamchatka giữa sương mù dày đặc.
Đó là hành trình dài 1 ngày tới Shumshu.
Điện đài phải giữ im lặng tuyệt đối.
Tin nhắn chỉ được gửi bằng cách đánh semaphore.
2 giờ sáng hôm sau, hạm đội cặp vào bãi biển đổ bộ.
Quân xung kích phải đánh vật với dòng chảy xiết và nước lạnh buốt.
Cuộc pháo kích thường lệ từ Pháo đội ở Mũi Lopatka,
khiến quân Nhật không để ý tới cuộc đổ bộ của Liên Xô.
Mãi 1 giờ sau họ mới phát hiện điều này.
Đến lúc này quân đổ bộ vào sâu được gần 2 km.
Các họng pháo Nhật khai hỏa muộn mằn.
Các hải pháo Xô-viết bắn cháy ngọn hải đăng,
tạo thành mốc hiệu cho số tàu đổ bộ còn lại.
Đợt đổ bộ tiếp theo đến cách bờ nước chỉ 200 m.
Hàng trăm người bị dòng chảy mạnh cuốn mất,
nhưng cũng đã có đủ người vào được bờ để bắt đầu cuộc tấn công.
Mây đen che dày đặc nghĩa là sẽ không có không quân yểm trợ,
họ phải tự lo liệu.
Nhưng các xe tăng hạng nhẹ của Nhật quá mỏng manh
ngay cả trước súng trường chống tăng Xô-viết.
“Bên phải!”
7 xe tăng bị tiêu diệt bằng lựu đạn chống tăng.
Hạ sĩ Babich nổi bật với thành tích một mình diệt 2 tăng.
Đó quả là một cuộc tàn sát.
Chỉ có 1 tăng Nhật chạy thoát.
Lính bộ binh xông lên tấn công cứ điểm địch
được yểm trợ bởi pháo binh, lúc này đã đổ bộ xuống bờ biển.
24 giờ sau, quân Nhật đề nghị đàm phán.
Ngày hôm sau Tướng Fusaki tuyên bố ngưng bắn,
và tới sáng ngày 22/8, quân đồn trú hạ vũ khí.
Trận đánh cuối cùng của Thế Chiến thứ II
lấy đi mạng sống của hơn 1.000 binh lính cả 2 bên.
Ngày 25/8, quân đồn trú ở Onekotan đầu hàng,
tiếp theo là Matsua với căn cứ hải quân và sân bay.
Phần còn lại của Quân đảo Kuril cũng nối tiếp hạ vũ khí.
Lực lượng Xô-viết dự định chiếm Hokkaido,
cực bắc của Quần đảo nội địa Nhật,
nhưng chiến dịch này bị Stalin bãi bỏ,
khi phải đối mặt với sự phản đối lập tức của Hoa Kỳ.
Nhưng, chiểu theo thỏa thuận ký tại Yalta,
Liên Xô giờ hoàn toàn sở hữu
phần lãnh thổ cũ của Nhật tại Nam Sakhalin,
và Quần đảo Kuril.
Ngày 2/9/1945,
văn kiện đầu hàng của Nhật Bản đã được ký kết trên boong tàu USS Missouri đậu trong Vịnh Tokyo.
Nó được ký bởi đại diện Liên Xô Tướng Derevyanko.
Liên bang Xô-viết đã có vị trí của mình tại buổi lễ
nhờ có hành động quyết định tại Mãn Châu,
đòn đánh hạ gục những hy vọng của Nhật Bản muốn tiếp tục chống cự.
Nhưng những tia lạnh nhạt đầu tiên đã len lỏi vào quan hệ
giữa các đồng minh trong cuộc chiến.
Họ đã bắt đầu hình thành ra 2 phe,
và 5 năm sau các phi công Xô-viết và Mỹ
sẽ gặp nhau trên bầu trời Triều Tiên như hai kình địch.
Nhưng vào lúc này, Đồng Minh đang ăn mừng chiến thắng của họ.
Cuộc chiến lớn nhất trong lịch sử đã kết thúc.
Cuộc chiến đã lan khắp 3 châu lục và 4 đại dương.
Nó cướp đi sinh mạng của khoảng 70 triệu người.
Nhưng giờ đây, những người lính đang trở về nhà.
Họ tin rằng cuộc chiến này là cuối cùng, thực sự cuối cùng.
Làm sao có thể khác được ...
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.