Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.
Tháng 1/1945. Hồng quân đã sẵn sàng tiến vào nước Đức.
Chương cuối của cuộc chiến ở Châu Âu sắp chứng kiến
cuộc chống cự cuồng tín của Quốc Xã và sự trả thù tàn bạo của Liên Xô.
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.
Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga
và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
“Đừng bắn!”
“Đừng bắn!”
“Đừng bắn!’
“Đừng bắn!’
TRẬN CHIẾN NƯỚC ĐỨC.
“Ngưng bắn!"
“Ngưng bắn!"
Một vị khách đột ngột chui vào chiến hào Đức.
Người hạ sĩ quan, một lính cựu dày dặn ở Mặt trận phía Đông,
lập tức chú ý đến cái mũ của tay đào ngũ.
“Tên lính này là phạm!”
Trên mũ không có ngôi sao đỏ theo lệ thường.
Người này đến từ một tiểu đoàn trừng giới.
“Nào, đi!”
Trong khi hỏi cung, gã đào ngũ báo cho người Đức
về cuộc tấn công sắp tới của Liên Xô.
“Tôi thấy… nhiều tăng và pháo.”
“Chúng di chuyển đến vị trí vào ban đêm.”
Tiểu đoàn trừng giới của người này phải tấn công ở tuyến đầu.
Anh ta tin rằng mình sẽ không sống sót nổi.
Bộ Tổng TM Đức đánh giá nghiêm túc tin tức của kẻ đào ngũ.
Đến mùa thu 1944, Phòng tuyến Vistula ở miền Trung Ba Lan đã ổn định.
Nhiều tuần trôi qua nhưng cuộc tấn công được chờ đợi
của Hồng quân vẫn không thành hiện thực.
Quân Đức đã rút khỏi Ba Lan để phản công tại Ardenne.
Quân đoàn Xe tăng IV. SS Panzerkorps bị rút khỏi Warszawa để chuyển tới Hungary.
Phòng tuyến bảo vệ đường đến Berlin, đã bị lột sạch.
Nhưng cuộc tấn công của Liên Xô chỉ bị hoãn lại.
“Lý do địch không thực hiện cuộc tấn công là vì thời tiết xấu.”
“Chúng cần mặt đất đông cứng, và tầm nhìn tốt để sử dụng không quân.”
Nhưng các đơn vị Đức ở Ba Lan đã thực hành
chiến thuật mới để chống lại đợt tấn công đầu tiên của Hồng quân.
Các đợt pháo kích mở màn của Hồng quân thường sẽ quét sạch những đơn vị Đức
đóng ở tuyến chiến hào đầu.
Do đó người Đức quyết định, vào phút chót
họ sẽ rút bộ binh về tuyến hai
cách đó 2-3 km phía sau. Cứ mỗi 300-500 m
họ lại đào một tuyến hào giao thông để nối hai tuyến với nhau.
Cuộc bắn phá của Liên Xô sẽ trút xuống dãy chiến hào trống rỗng,
trong khi bộ binh đã sẵn sàng đánh trả cuộc tấn công của Liên Xô ở dãy
chiến hào thứ hai.
Hầu hết dây thép gai và chướng ngại vật đều bố trí ở giữa dãy thứ nhất và thứ hai.
Quân Đức đã chuẩn bị để thối lui bất cứ lúc nào.
Sau lưng họ, các sư đoàn xe tăng, có cả loại mới Tiger II Vua Cọp,
sẵn sàng đánh phản công.
Tình báo Xô-viết
đã đánh giá quá thấp sức mạnh của lực lượng dự bị địch.
Lục quân Wehrmacht đã sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nước Đức.
Họ sẽ làm kẻ thù chảy cạn máu,
và buộc địch phải chấp nhận hòa bình theo các điều khoản có lợi nhất.
Một mưu mẹo mới của phía Xô-viết là,
mở nhạc thật to trong chiến hào,
che lấp tiếng ồn của xe tăng và xe xích kéo pháo khi
di chuyển để tấn công.
Cuối cùng, vào ngày 12/1, họ mở một đĩa nhạc mới.
Cất lên từ ống loa và vang khắp vùng đồng bằng tuyết phủ là âm thanh không dứt
bản nhạc của liên bang tự nguyện các nước cộng hòa - bản quốc ca mới của
Liên bang Xô-viết (trước 1944, Liên Xô dùng bài Quốc Tế Ca làm quốc ca).
“Chú ý! Chú ý! Có gì đó sắp xảy ra!”
Khi những lời cuối của quốc ca tan đi, có một quãng lặng ngắn,
và rồi là tiếng gầm của hàng trăm khẩu pháo.
“Rút về phía sau! Mau, mau!”
Bộ binh Đức lũ lượt rút theo tuyến hào giao thông.
Những quả pháo đầu tiên rơi xuống khi quân Đức vẫn còn trên đường rút về tuyến hai.
Họ chờ đợi cuộc pháo kích kéo dài sẽ trút xuống dãy hào đầu,
nhưng đó chỉ là một đợt bắn ngắn.
Khi bộ binh Đức đã vào vị trí mới, trọng pháo Xô-viết
lại giã xuống tuyến hào thứ hai
bằng tất cả số đạn còn lại.
Chiến thuật phòng thủ mới của Lục quân Đức
lần này đã thất bại.
Nhưng Bộ chỉ huy Đức vẫn còn lực lượng thiết giáp dự bị.
Tại Kielce (nay thuộc Ba Lan), một đoàn xe tăng dự bị của Đức
với 72 tăng Tiger I và Tiger II xông ra phản công.
Đến đầu 1945, hầu hết các trung đoàn tăng Xô-viết đã được tái trang bị
loại tăng mới T-34-85. Loại tăng này gắn pháo 85mm nòng dài uy lực hơn nhiều.
Nó cho tổ lái nhiều cơ hội hơn hẳn
để chống lại các loại tăng Đức có giáp dày như Tiger và Panther.
Tại Lisow, tăng Tiger bị phục kích bởi Lữ đoàn Xe tăng Cận vệ 61.
Sau một trận đánh dữ dội, Tiểu đoàn tăng Tiger 501 bị đánh bại.
Quanh Kielce, quân Đức phản công với hơn 350 xe tăng
và pháo tự hành, nhưng họ không chặn nổi bước tiến của 2
tập đoàn quân xe tăng Xô-viết.
Các sư đoàn xe tăng Đức bị bao vây và tiêu diệt. (Trận đánh đầu cầu Sandomierz).
Các cuộc phản công khác của thiết giáp Đức tại Puławy
và Magnuszew (nay thuộc Ba Lan) cũng bất thành.
Ngày 17/1/1945, Hồng quân tiến vào Warszawa.
Một lỗ hổng khổng lồ đã hình thành trên chiến tuyến Đức.
Xe tăng Hồng quân tiến quá nhanh đến nỗi họ tràn ngập các sân bay Đức,
khi máy bay vẫn còn đang đổ xăng.
Ở gần Lublin, họ chiếm được 16 máy bay Luftwaffe tại một sân bay.
Nhưng tại Đông Phổ, Phương diện quân Belorussia 3 không thành công bằng.
Tại đây, công tác tình báo gặp khó khăn hơn nhiều.
Cộng đồng người Đức địa phương tỏ ra hết sức thù địch.
Nhiều tổ trinh sát tuần tiễu đã không trở về sau khi đi làm nhiệm vụ.
Trinh sát không thể phát hiện được sự rút lui của lực lượng Đức,
nên cuộc pháo kích rơi xuống tuyến hào đầu trống rỗng.
Quân Đức đã rút lui về Königsberg (nay thuộc Nga).
Không quân Xô-viết không thể cất cánh vì bão tuyết,
nên không thể hỗ trợ cuộc tấn công.
15 ngày trước cuộc tấn công, Phương diện quân Ukraina 2,
tiến vào những căn nhà xám xịt của Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan: Oświęcim), vây quanh
bởi các chòi canh và hàng rào điện.
Auschwitz thực tế là một mạng lưới hơn 40 trại,
trong đó Auschwitz Birkenau là trại lớn nhất.
Đà tiến quá nhanh của Hồng quân khiến người Đức
phải vội vã đóng cửa hoạt động của cái nhà máy giết người này.
Himmler ban lệnh cho trại phải xóa sạch tang chứng.
Tất cả tù nhân còn sống phải bị sơ tán hoặc giết chết.
Mọi phương tiện, cơ cấu dùng để thủ tiêu tù nhân đều phải
bị phá hủy bằng thuốc nổ. 60.000 tù nhân gầy yếu bị lùa đi bộ sơ tán.
Trong số họ có nữ du kích Xô-viết Irina Karina:
“Chúng tôi đi bộ..."
"... Đoàn này nối tiếp đoàn khác, có lính gác SS và chó canh xung quanh. ..."
"... Tuyết ướt đẫm máu, ..."
"... bởi bất cứ ai dừng lại không đi nổi, đều bị bắn chết tại chỗ.”
Lò thiêu cuối cùng còn lại bị nổ tung 24 giờ trước khi Hồng quân tới nơi.
Vào phút chót lính SS bắn chết khoảng 700 tù nhân,
trong hy vọng xóa sổ những nhân chứng cuối cùng.
Nhưng do phải vội chạy trốn xe tăng Xô-viết đang xông tới,
bọn SS đã không thể hoàn tất được nhiệm vụ.
Hồng quân tìm thấy bảy ngàn rưỡi tù nhân đói khát bên trong trại,
và đủ bằng chứng để biết được chuyện gì đã xảy ra.
Họ tìm thấy hàng núi vật dụng cá nhân của người đã chết.
Chỉ riêng tại trại này số nạn nhân đã tới 1,1 triệu người,
trong đó 90 % là Do Thái.
Khi Hồng quân tiếp tục tiến, Phương diện quân Ukraina 1
dưới quyền Nguyên soái Ivan Konev gặp phải kháng cự quyết liệt
quanh vùng công nghiệp Silesia (nay là Ba Lan), do đó ông chọn tiến quân theo hướng khác.
“Điểm mốc - ống khói lò cao." "Các xưởng máy xây gạch và bê-tông.”
“Lính gác - 5. Nhà kho - xây gạch.”
Việc lùa địch ra khỏi vùng xí nghiệp và nhà máy trải dài rộng lớn này sẽ khiến tổn thất
nhiều người và thời gian, đồng thời Stalin muốn các nhà máy phải còn nguyên vẹn.
Ông đề cập vùng này với Nguyên soái Konev
như là vàng ròng. Và thế là, với sự chấp thuận của Bộ Tổng TM,
Konev cho phép quân Đức chạy thoát khỏi Silesia.
Một hành lang rộng 6 km được mở ra ở phía Nam
để quân Đức rút qua đó. Đến cuối tháng 1/1945,
toàn bộ vùng này đã nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô.
Albert Speer,
Bộ trưởng Quân khí của Hitler, gửi cho Quốc trưởng một biên bản về tầm quan trọng
của việc để mất Silesia.
Biên bản bắt đầu bằng câu: “Cuộc chiến thế là đã thất bại….”
Sau khi vùng công nghiệp Ruhr
bị Đồng Minh ném bom tan tành, các mỏ của Silesia cung cấp 60 % lượng than đá cho nước Đức.
Với việc để mất Silesia, lượng than năm 1945
chỉ còn 1/4 so với 1944,
còn sản lượng sắt chỉ còn 1/6.
Speer viết tiếp:
“Với việc mất Silesia, ..."
"... nền công nghiệp Đức không thể đáp ứng nhu cầu ..."
"... về đạn dược, vũ khí và xe tăng của mặt trận.”
Thế có nghĩa là chỉ trụ nổi không đến hết năm. Nhưng tin này chỉ được
phổ biến trong đám thủ hạ thân tín của Hitler.
Hitler tiếp tục đòi hỏi sự hy sinh
và chống cự cuồng tín của những người đi theo mình.
Để cứu vãn tình hình trên Mặt trận phía Đông,
ông ta quay sang một trong những đồng minh lâu nhất của mình, Thống lĩnh SS Heinrich Himmler.
Hitler phong cho Himmler làm Tư lệnh Cụm TĐQ Vistula,
mặc dù Himmler hoàn toàn không có kinh nghiệm về chỉ huy quân đội.
Có một người đã phát hoảng trước quyết định này,
đó là vị tướng xe tăng đầy tài năng Heinz Guderian,
hiện là Tổng tham mưu trưởng Quân đội.
Guderian,
biết rằng mình cần huy động mọi sự giúp sức, đã phong Walther Wenck,
một sĩ quan tham mưu giàu kinh nghiệm, làm tham mưu trưởng cho Himmler.
Hitler giao vai trò này cho Himmler,
bởi ông ta tin chỉ một người Quốc Xã chính cống
mới có thể truyền cảm cho quân lính sự cuồng tín cần thiết
để đánh bại kẻ thù.
Đó là minh họa rõ nét cho việc Quốc trưởng
đã bị xa rời thực tế đến thế nào.
Các tổ lái tăng Xô-viết rảo quanh chiếc máy bay bị tuyết phủ trắng
tại Sân bay Poznan. Chiếc Heinkel He-111 này
bị bỏ lại vì thiếu xăng. Kết cục của Đệ Tam Đế chế
giờ có thể tính bằng từng ngày.
Nhưng quân Đức đồn trú Poznan (nay là Ba Lan) không vội vàng đầu hàng.
Tư lệnh Tập đoàn quân Xe tăng 1, Tướng Katukov,
sớm nhận ra thành phố này là ác mộng tồi tệ nhất của các tổ lái tăng.
Các con phố hẹp và các vùng tác xạ đã được chuẩn bị kỹ càng.
“Lệnh cho chúng ta vòng qua Poznan ở phía Bắc và phía Nam…”
“…và khép chặt vòng vây, sao cho quân đồn trú không thể chạy thoát về phía Tây. Rõ chưa?”
“Rõ!”
“Lên xe!”
Katukov được phép tiếp tục tiến về Berlin,
còn Poznan sẽ để lại cho Tập đoàn quân Cận vệ 8 của
Tướng Chuikov, người anh hùng Trận Stalingrad.
Mệnh lệnh cho Chuikov là đột kích chiếm lấy Poznan.
Poznan nằm tại vị trí trọng yếu, đầu mối mạng lưới đường sắt và các ngả đường khu vực.
Quân của Chuikov bắt đầu tấn công ngày 26/1.
Chuikov để ngỏ một đường thoát về phía Tây,
ông hy vọng quân Đức sẽ rút để ông chiếm nhanh lấy thành phố
với tổn thất tối thiểu,
nhưng quân đồn trú không tìm cách thoát vây.
Đó là một pháo đài thực thụ do 20.000 quân Đức trấn giữ,
nấp sau các tường đá dày 3 m.
Pháo binh Xô-viết nện dữ dội vào pháo đài thành phố
xây từ thế kỷ 18 này.
Hitler vốn chủ trương Chiến lược Festung (Pháo đài)
từ 1943,
tức là cố giữ các thành phố - pháo đài
được chọn bằng mọi giá sau khi chúng đã bị hoàn toàn vây kín.
Tại Ukraina và Belorussia, chiến lược này không được
nhiều tướng lĩnh Đức ủng hộ.
Nhưng vào năm 1945, khi chiến tranh đã lan đến đất Đức,
số tướng lĩnh dám cãi lời Quốc trường còn ít hơn nhiều.
Một Festung tại đầu mối đường bộ và
đường sắt quan trọng sẽ khiến Hồng quân khó tiếp vận
cho các đơn vị tiên phong.
Trái lại, chiến lược này có nghĩa là những lính Đức
đầy kinh nghiệm đáng giá sẽ bị bao vây và tiêu diệt.
Cuộc tấn công thứ hai vào Poznan bắt đầu ngày 28/1.
Trước hết Chuikov ban một tối hậu thư cho quân đồn trú:
“Tôi, Tướng Chuikov, ..."
"... đề nghị các anh hạ vũ khí và đầu hàng. ..."
"... Tôi đảm bảo mạng sống cho các anh và các anh sẽ được trở về nhà sau chiến tranh ..."
"... Bằng không, các anh sẽ bị tiêu diệt.”
Rất ít quân phòng thủ nghe theo lời đề nghị.
Chỉ huy quân đồn trú là Thiếu tướng Gonell, một Đảng viên Quốc Xã tận tâm.
Ông ta không hề dự định đầu hàng.
Trong khi đó, xe tăng của Katukov vòng qua Poznan,
và hướng về phía Tây tới Berlin.
Nhưng tại biên giới cũ Đức-Ba Lan,
họ đụng phải Ostwall - Bức tường phía Đông.
Ostwall là một phòng tuyến cũ
mà Đức bắt đầu xây dựng dọc biên giới Ba Lan từ năm 1934.
Nhưng đến 1938,
Hitler quyết định phòng tuyến này không còn là ưu tiên
và cho ngưng xây dựng nó. Đến 1944,
khi Hồng quân đã đánh tới gần, các công sự lô cốt
được vội vã đưa vào hoạt động lại.
Phòng tuyến này bao gồm một chuỗi các lô cốt gọi là “Panzerwerk”.
Đó là các ụ bọc thép có lỗ châu mai, phía trước
rải các chướng ngại vật chống tăng bằng bê tông,
gọi là “Răng Rồng”.
Các Panzerwerk có đủ thực phẩm, nước và đạn dược
để cầm cự hàng tuần liền.
Vấn đề của Bộ Tổng Tham mưu Đức là tìm ra cho đủ người để chốt trong đó.
Chỉ còn các đơn vị tả tơi
để sử dụng và nhiều đơn vị như vậy đến nơi muộn.
Một lữ đoàn tăng Xô-viết xông qua
khu cứ điểm không người, nhưng vài giờ sau,
quân Đức tới và bắt tay vào đào hào trên mặt đường
để xe tăng không băng qua được.
Lữ đoàn kế tiếp tiến dọc trên đường gặp phải kháng cự dữ dội.
Lữ đoàn đi trước bị cắt rời.
Mọi cố gắng phá vây đều bất thành.
Đạn pháo tăng không thể bắn thủng các ụ bọc thép,
và do tiến quá nhanh, bộ binh và trọng pháo
bị tụt lại tít phía sau.
Đêm hôm đó, mọi người nghe thấy tiếng giao chiến dữ dội đằng sau phòng tuyến Đức
nơi đồng đội của họ bị kẹt lại.
Nếu dự bị của Đức tới thì lữ đoàn này sẽ bị tiêu diệt.
Nhưng không phải mọi khu vực của Ostwall
đều được kiên quyết chống giữ.
Những người bảo vệ đoạn phòng tuyến gần Schwiebus
(nay là Ba Lan) thậm chí còn không có quân phục.
Đó là một đơn vị Volkssturm.
Đến cuối 1944, do quân Đức ngày càng thiếu lính,
Hitler cho phép xây dựng
lực lượng dân quân gọi là Volkssturm.
Và Hitler hết sức tin tưởng rằng sẽ có được 6 triệu người
để khởi động cuộc chiến tranh nhân dân chống lại quân xâm lược.
Hy vọng ấy là quá lạc quan.
Tại Poznan, bọn Quốc Xã hy vọng lập được 24 tiểu đoàn Volkssturm
nhưng cuối cùng chỉ được 1.
Mọi nam giới Đức từ 16 tới 60 tuổi
đều có thể bị bắt gia nhập Volkssturm.
Hình phạt cho tội bỏ trốn là xử tử.
Nhằm đảm bảo các tiểu đoàn Volkssturm
có được sự hăng hái cần thiết để bánh bại kẻ thù, họ được đặt
dưới quyền chỉ huy của 1 Gauleiter,
người đứng đầu Đảng ủy Quốc Xã của vùng,
thay vì dưới sự chỉ huy của quân đội. (thực tế nhiều đội Volkssturm đã chiến đấu...)
(... đến người cuối cùng -danngoc)
Volkssturm chỉ nhận được ít vũ khí và đạn dược,
dù họ có nhiều súng chống tăng panzerfaust.
Họ không có quân phục, chỉ được phát băng tay
để đeo ra ngoài thường phục.
Có thể biết trước là những đơn vị như vậy không mấy hiệu quả trong chiến đấu.
Tại Schwiebus, họ chẳng làm được gì nhiều
để ngăn Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1 Xô-viết.
Lữ đoàn tăng bị vây đã được cứu và tiếp tục tiến quân tới sông Oder.
Những sự việc tương tự cũng xảy ra ở phía Bắc Meseritz (nay là Ba Lan).
Trung tá Hermann Stern 60 tuổi,
chỉ huy Tiểu đoàn Volkssturm 128,
kể lại những gì đã xảy ra cho những người bắt mình:
“Khi tôi thấy xe tăng qua ống nhòm, tôi nói rằng ..."
"... nếu chúng ta không nổ súng thì người Nga cũng không bắn.”
“Chúng tôi phất cờ trắng rồi chui khỏi chiến hào.”
“Đừng bắn!" "Chúng tôi đầu hàng!”
“Ngưng bắn! Ngưng bắn!”
“Ra thôi! Để vũ khí lại!”
“Chú ý! Ngưng bắn! Tôi nghĩ bọn Fritz đang đầu hàng!”
Quân Volkssturm đầu hàng tại khu phòng thủ quanh Meseritz,
mà không nổ một phát súng. Hồng quân chọc tới sông Oder
và lập ra các đầu cầu chỉ cách Berlin 70 km.
Chỉ tại đấy đà tiến mới bị chặn lại bởi quân dự bị Đức vừa đến.
Đến tháng 2/1945,
Phương diện quân Belorussia 1 đã đánh băng qua
nước Đức và chỉ còn cách thủ đô Berlin 70 km.
Chỉ trong 3 tuần,
trên một mặt trận rộng 500 km,
Hồng quân đã tiến được 500 km.
Hàng ngàn thường dân Đức bỏ nhà cửa di tản
vì sợ sự trả thù của Hồng quân.
Nỗi sợ của họ là hợp lý.
Đã từ lâu binh sĩ Xô-viết được tuyên truyền để khinh bỉ kẻ thù.
Nước Đức là hang ổ của con thú phát xít,
và nhiều người bắt đầu trả thù cho những đau khổ cay đắng của mình.
Trong số họ có Yevgeny Bessonov.
“Chúng tôi tiến vào một thị trấn có những ngôi nhà hai tầng với bộ mái ngói rất đẹp ..."
"Trước tiên là chúng tôi châm lửa đốt các ngôi nhà ấy ..."
"Chúng tôi không thể quên cảnh các ngôi làng của chính mình bị đốt cháy trụi ..."
"... với chỉ còn các ống khói nhô lên từ đống tro tàn."
“Hỡi các chiến sĩ Hồng quân - phía trước các anh là hang ổ của con thú phát xít!”
Không chỉ có tài sản bị tàn phá bởi binh lính Hồng quân.
Binh lính Xô-viết, nhiều người bị kích thích bởi rượu, đã chịu trách nhiệm về việc
cưỡng hiếp hàng ngàn phụ nữ Đức, nhiều người sau đó bị giết chết.
Tù binh và thường dân cũng thường bị bắn ngay tại chỗ.
Một số binh lính Xô-viết đã có lúc mất kiểm soát.
Lazar Rafaelevich Tsents, chỉ huy 1 pháo đội 122 mm, kể lại:
“Trong năm 1945, không có ai đụng tay vào tù binh ..."
"... Nhưng vào năm 1944, những việc như vậy không phải là hiếm ... "
"... Có lần, một thượng sĩ mà tôi quen lôi 5 thằng Đức ra ngoài và bắt đầu ..."
"... bắn chết từng thằng một."
"... Tôi tiến tới anh ta, giật lấy súng lục rồi nói ..."
"- Giá anh giết chúng trong trận đánh thì tốt hơn.”
Việc cướp phá tài sản người Đức khá hệ thống.
Binh lính gom lại những món xa xỉ mà trước đây họ chưa từng biết,
các hũ nước quả, mứt, thịt hộp.
Họ lấy đi mọi thứ mà ở quê nhà vẫn thiếu thốn,
bao gồm quần áo, vải vóc và giày ủng.
“Ê các cậu! Xem tớ tìm thấy gì nè!"
"Đôi giày này đi đám cưới oách phải biết!”
“Cho xem đôi của cậu đi!”
“Đôi của tớ mới lắm!” “Sao, cậu nghĩ đôi của tớ cũ hả?”
“Không hề!” “Ôi, bảnh chưa!”
“Ê các bạn, gói lại thôi! Đôi ấy không vừa cỡ cậu đâu, tớ chắc chắn!”
“Ê dừng lại, đi đâu vậy?”
Thậm chí có cả đường bưu phẩm chính thức để gửi đồ lấy được về cho gia đình.
Lính trơn được gửi 5 kg mỗi tháng,
sĩ quan 10 kg.
Khi tiếp tục tiến quân,
các cấp chỉ huy nhận ra rằng việc đối xử tàn bạo với thường dân Đức
sẽ khiến kẻ địch chống trả quyết liệt hơn.
Họ tìm cách hạ nhiệt những hành vi như vậy.
“Anh hiểu chưa? Vậy thì tốt.”
“Các đồng chí!”
“... Giờ đây chúng ta đang tiến vào nước Đức Hitler ...”
“... Chúng ta biết rằng bọn Đức đã đem vô số gian nan đến quê hương ta ...”
“… và ta đang tiến vào lãnh thổ chúng để trừng phạt! ...”
“... Nhưng bất cứ biện pháp không xứng đáng nào chống lại thường dân Đức ...”
“… đều sẽ bị trừng trị bằng cách nghiêm khắc nhất.”
Tuy nhiên, nhiều sĩ quan vẫn bịt mắt trước hành vi của binh lính mình.
Khi Hồng quân tiến vào Đông Phổ,
đích thân Stalin đã phải ban một mệnh lệnh
cấm ngược đãi thường dân Đức.
Các mệnh lệnh tương tự cũng được ban hành bởi
Hội đồng quân sự của nhiều phương diện quân.
Bản cảnh cáo, ký bởi Nguyên soái Rokossovsky,
Tư lệnh Phương diện quân Belorussia 2, kêu gọi mọi cấp
quân nhân loại bỏ mọi hành động làm xấu danh dự Hồng quân,
đề cập về vấn đề nóng hổi này.
“... Vì những hành động không phù hợp danh dự một chiến sĩ Hồng quân ...”
“... thủ phạm đã bị kết tội tử hình.”
Tháng 2/1945,
khi Churchill, Roosevelt và Stalin họp mặt tại Yalta,
để quyết định tương lai của Châu Âu thời hậu chiến,
những thắng lợi gần đây của Hồng quân đã đưa Stalin vào thế trên.
Các Đồng Minh phương Tây có nhượng bộ lớn với Stalin
về đường biên giới Liên Xô - Ba Lan. Họ cho phép Liên Xô
giữ hầu hết phần lãnh thổ đã chiếm của Ba Lan năm 1939,
bao gồm cả thành phố Lvov, dù Bielostok sẽ bị trả lại.
Bù lại, Ba Lan sẽ nhận phần lãnh thổ của Đức
phía Đông sông Oder và phần lớn Đông Phổ.
Một quyết định cuối cùng đã đạt được về việc
phi quân sự hóa và chia cắt nước Đức.
“Điều này mang mục tiêu uyển chuyển nhằm thủ tiêu ..."
"... chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa Quốc Xã Đức ..."
"... và nhằm đảm bảo nước Đức sẽ không bao giờ ..."
"... có thể gây xáo trộn nền hòa bình của thế giới nữa.”
Nước Đức bị chia thành 4 vùng chiếm đóng.
Ngoài Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh
thì phần còn lại được giao cho Pháp.
Bản thân thủ đô của Đức nằm trong vùng thuộc Liên Xô cũng sẽ bị chia làm 4 phần.
Churchill thúc Stalin tiến hành
cuộc bầu cử tự do công bằng tại Ba Lan
để nước này có thể chọn ra chính phủ cho riêng mình.
Stalin đồng ý, nhưng đó là lời hứa ông không bao giờ thực hiện.
Stalin có thêm lời hứa rằng Liên Xô sẽ tham gia cuộc chiến chống Nhật Bản,
trong vòng 90 ngày, sau khi Đức đầu hàng.
Trong khi đó, tại Poznan, Tập đoàn quân Cận vệ 8 của Chuikov
đang quét sạch quân phòng thủ Đức trong đống đổ nát.
Lữ đoàn Công binh Xung kích 2
đang chuẩn bị công phá pháo đài của thành phố.
Cản trở chính với họ là con hào dốc đứng rộng 10 m sâu 8 m.
Dưới sự che chở của làn khói ngụy trang, các công binh
lăn những thùng chứa đầy thuốc nổ vào vị trí.
“Theo sau màn khói ..."
"... Riashin và Fiodorov, xông lên trước yểm trợ chúng tôi. Hai người đẩy cái thùng ...”
“... Đẩy nó xuống rồi quay lại lập tức!”
Ngòi nổ sẽ được châm vào giây cuối cùng
rồi cái thùng được lăn xuống hào.
Vụ nổ giết chết đám lính Đức nấp sau lỗ châu mai.
Nhóm xung kích Xô-viết chờ tới lúc đó sẽ băng qua và chiếm lấy đoạn tường thành.
Bên trong thành là Pháo đài Winiary.
Pháo đài ghê gớm này được trấn giữ bởi hàng ngàn lính Đức kiên cường,
dưới sự chỉ huy của vị thiếu tướng cuồng tín Ernst Gonell.
Cuộc tấn công bắt đầu ngày 18/2.
Trọng pháo hạ thấp nòng bắn thẳng vào Pháo đài.
Đạn pháo phá những lỗ trên tường đủ rộng để người chui lọt.
Sau đó, những thùng thuốc nổ được châm và lăn xuống hào.
Những ai còn sống đều điếc đặc và choáng váng.
“Thêm thùng nữa!"
"Ở đây, bên trái!”
Quân xung kích dùng thang trèo qua hào vào pháo đài
và đánh thẳng vào thành phố.
“Firsov, người của cậu đâu?” “Trung đội, theo tôi!”
“Đây này, Trung úy!”
“Đi nào, đi nào! Dựng cầu lên! Mau!”
Công binh xây một cây cầu qua hào
để đưa xe tăng và pháo tự hành vào thành phố.
Xe tăng đã chấm dứt mọi sự kháng cự.
Cuộc bao vây dài 1 tháng đã kết thúc.
Tướng Gonell nằm xuống một lá cờ thập ngoặc và rút súng tự sát.
Phó chỉ huy của ông ta Tướng Mattern dẫn hơn 4.000
lính sống sót đầu hàng.
Nhưng ở nơi khác, bọn Quốc Xã lập kế hoạch
cho cuộc phản công tuyệt vọng cuối cùng đề cứu Berlin.
Heinrich Himmler, Tư lệnh Cụm TĐQ Vistula,
hy vọng lật ngược thế cờ với Hồng quân trên đường tới Berlin.
Bộ tham mưu của ông ta lên kế hoạch phản công
bằng Tập đoàn quân Xe tăng SS-Panzer-Armeeoberkommando 11.
Chiến dịch “Thiên đỉnh” Unternehmen Sonnenwende
được tung ra từ Pomerania đánh vào sườn bắc
Phương diện quân Belorussia 1 của Zhukov.
Waffen-SS xuất thân từ tổ chức bán quân sự của Đảng Quốc Xã.
Năm 1939 nó chỉ có 3 trung đoàn
và có năng lực chiến đấu không cao.
Nhưng khi chiến tranh lan rộng,
Waffen-SS nở ra thành hơn 30 sư đoàn
và tạo được danh tiếng là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ.
Các đơn vị của nó là nơi đầu tiên được nhận trang bị loại mới nhất.
Đến 1945, Waffen-SS là một lực lượng đa sắc tộc.
Các sư đoàn của nó tuyển người từ tình nguyện viên trên khắp Châu Âu.
Nhiều sư trong số đó giờ đang tập trung tại Pomerania,
bao gồm sư SS Nordland (Bắc Âu),
Nederland (Hà Lan), Wallonien (Bỉ), Langemarck (người Flemish), Frundsberg và Polizei.
Cuộc phản công của Đức bắt đầu ngày 16/2/1945,
nhưng nó không tiển triển mấy khi gặp phải Tập đoàn quân 61
của Tướng Belov và Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 2 của Bogdanov.
Sau đó Zhukov phản công. Ông quay 2 tập đoàn quân
xe tăng Xô-viết đánh lại quân Đức ở Pomerania.
Sau 5 ngày,
tăng T-34 của các tập đoàn quân xe tăng của Katukov
và Bogdanov đã đến được bờ biển Baltic,
bao vây số quân Đức tuyệt vọng chiến đấu để tìm cách thoát bằng đường biển.
Sau thảm họa này,
Hitler cho phép Heinrich Himmler từ chức Tư lệnh Cụm TĐQ Vistula.
Hầu hết pháo Xô-viết đều là thiết kế hiện đại trong thập niên 1930,
nhưng có một số khẩu kiểu cổ hơn nhiều.
Khẩu lựu pháo 305 mm này vẫn còn hình đại bàng 2 đầu thời nhà Romanov.
“Tốt, trúng ngay tường thành.”
“Mục tiêu - cái tháp. Bên phải - 1.”
“Bắn!”
Mục tiêu của họ là thành phố pháo đài Königsberg,
thủ phủ của Đông Phổ. Đầu tháng 4,
có một quãng lặng trên gần khắp mặt trận. Nhưng tại đây,
trận đánh vẫn tiếp diễn. Phải phá được tường thành,
nhưng không quân không thể giúp sức do vẫn chưa thể cất cánh vì trời xấu.
Trọng pháo công thành bắn mỗi phát
mất 3 phút, và phải 4 ngày
bắn chuẩn bị trước khi tiến hành tấn công.
Königsberg được bảo vệ bởi 1 chuỗi pháo đài hiện đại kiểu thế kỷ 19.
Các bức tường dày của nó được đắp thêm hàng tấn đất.
Nhưng cuộc bắn phá của Hồng quân thật dữ dội.
Tới năm 1945,
tình thế của Đức ở Đông Phổ thật tuyệt vọng.
Đến cuối tháng 1/1945,
Hồng quân đã đến được Phá Vistula (nay là Kaliningradsky Zaliv),
cắt rời toàn bộ lực lượng Đức ở Đông Phổ.
Liên lạc với nội địa Đức chỉ thể đi bằng đường biển.
Nhưng quân Đức vẫn tiếp tục chống cự.
Khi tư lệnh Phương diện quân Belorussia 3 hy sinh trong trận đánh,
Stalin gọi Nguyên soái Vasilevsky tới thay.
Stalin thúc ông phải mau chóng quét sạch địch,
để Hồng quân có thể tiếp viện cho trận đánh Berlin.
Nhưng sau khi đánh giá tình hình, Vasilevsky quyết định không đánh nhanh.
Ông ra lệnh chuẩn bị thêm 3 tuần nữa.
Trước hết, ông ra lệnh tấn công quân Đức
kẹp hai bên bờ biển Tây Nam Königsberg.
Túi quân bị tiêu diệt vào cuối tháng 3.
Giờ đã đến lúc tấn công chính thành phố.
Hồng quân tập trung 250.000 người
cho cuộc tấn công cuối cùng vào Königsberg.
Họ được hỗ trợ bởi hơn 5.000 pháo, và 500 xe thiết giáp.
Họ tiến hành trinh sát
toàn bộ thành phố và các cửa ngõ của nó bằng máy bay.
Tình báo Xô-viết ước tính quân đồn trú Königsberg khoảng 60.000 người.
Hóa ra, họ đã tính thấp nghiêm trọng.
Khi cuộc tấn công cuối cùng bắt đầu ngày 6/4/1945,
các pháo đài ngoại vi
bị hư hại phần nào đã không kháng cự đáng kể,
nhưng tại cửa ngõ thành phố
đà tấn công của Liên Xô bị chựng lại.
Có nhiều quân Đức hơn họ dự tính
trong khi không quân vẫn chưa thể bay vì trời xấu.
Nhưng đến ngày 7/4, trời đã quang,
500 máy bay ném bom Xô-viết xuất hiện
trong khi Luftwaffe mất tăm.
Hàng ngàn quả bom trút xuống thành phố.
Sau trận bom, hỗn loạn ngự trị tại Königsberg.
Liên lạc bị cắt đứt trên toàn thành phố.
Ngày 8/4, số còn lại của quân đồn trú bị lùa về
trung tâm ở phía Đông thành phố.
Liên lạc với Cảng Pillau bị cắt.
Vị kháng cự đã không còn ý nghĩa,
ngày hôm sau quân đồn trú đầu hàng.
“Vất vả mới lùa được chúng ra đây.”
“Cậu lấy ở đâu vậy?” “Quà của thằng Jerry.”
Con số thương vong thực sự không thể xác định được
giữa sự hỗn loạn của số liệu tuyên truyền.
Hồng quân tuyên bố có hơn 40.000 lính Đức chết
và bắt được tới 70.000 tù binh.
Thương vong của Liên Xô lên tới 16.000,
nhiều thương vong đã không được báo cáo vào lúc đó.
Königsberg thực sự bị san bằng.
Chiến dịch Đông Phổ đã kết thúc.
Quân đội Xô-viết chiến thắng tiếp tục tiến về phía Tây,
chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng.
Phương diện quân Belorussia 2 chiếm lĩnh vị trí dọc sông Oder,
và sau đó, mọi thứ đã sẵn sàng cho cuộc tấn công cuối cùng ...
vào Berlin.
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.