Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.
Khi Hitler xâm lược Liên bang Xô-viết năm 1941,
mạng lưới điệp viên của Stalin bị xáo trộn rối bời.
Nhưng chẳng bao lâu sau, tình báo Xô-viết bắt đầu đáp trả...
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011. Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”
của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
CUỘC CHIẾN BÍ MẬT.
Ngày 21/6/1941, Maskva.
Một đoàn tàu tốc hành từ Berlin cập vào Ga Belorussia.
Trên tàu có Mikhail Vorontsov,
Tùy viên hải quân của Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin.
Anh xích tay mình vào chiếc vali.
Hai ngày trước, Vorontsov nhận được một điện tín khẩn từ Maskva
ra lệnh anh phải trở về lập tức.
Một toán hộ tống đến gặp anh trên sân ga,
gồm một quan chức của Dân ủy Ngoại vụ,
đi cùng 2 sĩ quan An ninh NKVD.
“Khỏe không?” “Nghiêm trọng vậy sao?”
“Còn hơn thế. Cậu phải gặp tận mặt mấy vị ấy mới được.”
Một ôtô của chính phủ đang đợi bên ngoài.
Vorontsov được ấn vào ghế sau,
ngồi giữa hai sĩ quan an ninh.
Anh được thư giãn lần đầu tiên kể từ khi rời Berlin.
Chiếc vali của anh giờ đã thuộc trách nhiệm của người khác.
Mikhail Aleksandrovich Vorontsov chiến đấu ở phe Bolshevik trong thời Nội chiến Nga trước khi
vào học Học viện Hải quân.
Sau khi tốt nghiệp, anh được đưa về Viễn Đông,
tại đó anh vươn lên làm Phó tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương.
Năm 1939, anh được đưa tới Berlin làm Tùy viên hải quân Liên Xô.
Người lái dừng xe lại bên ngoài Tháp Spatskaia,
lối vào Điện Kremlin.
10 phút sau,
Mikhail Vorontsov bước vào văn phòng của Stalin.
Trong số các tài liệu anh đem về từ Berlin, có bản sao một điện tín
mà anh được Tùy viên hải quân Thụy Điển đưa cho.
Điện tín có tiêu đề Đề nghị chính thức của Berlin
đề cập tới tuyến di chuyển của tàu chiến và máy bay Thụy Điển ở Biển Baltic
sau ngày 22/6/1941, để tránh va chạm với họ
trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô.
Công tác tình báo Xô-viết được tiến hành cả hợp pháp
thông qua các điệp viên đi lại bằng passport Xô-viết, lẫn bất hợp pháp qua các điệp viên
dùng giấy tờ giả.
Công tác tình báo nước ngoài
được thực hiện bởi mạng lưới gọi là “các trú sứ”.
Mọi thành viên của một “trú sứ” dù làm việc hợp pháp hay bất hợp pháp
đều có nhiệm vụ riêng biệt. Một điệp viên sẽ tuyển dụng và điều hành các điệp viên địa phương,
một điệp viên khác chịu trách nhiệm liên lạc điện đài,
một người nữa làm liên lạc viên chuyển tài liệu,
còn bản thân “trú sứ” sẽ điều phối toàn bộ hoạt động của nhóm.
Từ đầu thập niên 1920,
tình báo Xô-viết đã bắt đầu thiết lập các “trú sứ” hợp pháp
và bất hợp pháp trên khắp Châu Âu. Sau năm 1933,
và khi Hitler ngoi lên nắm quyền ở Đức, đã thấy rõ
quốc gia nào là mối đe dọa lớn nhất cho Liên bang Xô-viết.
Do đó, nhiều điệp viên Xô-viết được đưa lại vào nước Đức Quốc Xã
để thu thập thông tin về tiềm năng quân sự và dự tính của nước này.
Sau khi chiến tranh nổ ra năm 1939,
con số trú sứ Xô-viết bất hợp pháp ở Đức
tăng 50 %.
Những mạng lưới tương tự cũng hoạt động ở Bỉ,
Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ, Pháp,
Nhật, Bulgaria và Nam Tư.
Các trú sứ tình báo quân sự hoạt động hợp pháp tại nhiều nước.
Mỗi điệp viên đều có vỏ bọc trong sứ quán Liên Xô
hay ở chung với một phái đoàn Xô-viết nào đó.
Người điệp viên có thể là một quan chức ngoại giao, là lái xe hay chuyên viên kỹ thuật.
“Trước tiên ta tới Đại lộ Sevastopol. Vào thăm Jacqueline.”
“Sau đó chở tôi tới Phố Trakoder.”
Tháng 6/1941,
Phòng Tình báo quân sự trung tâm đã tuyển dụng được 914 người ở hải ngoại,
316 trong số đó làm cộng tác viên với trú sứ hợp pháp
còn 598 người là hoạt động bất hợp pháp.
Thậm chí cả Stalin cũng chỉ biết phần lớn những người này
qua mật danh. Bản thân ông cũng có quá đủ kinh nghiệm về hoạt động bí mật,
để hiểu rằng tên một điệp viên bị đề cập càng nhiều lần,
thì anh ta càng gặp nhiều nguy hiểm.
Kể từ mùa thu 1940, ngày càng có nhiều báo cáo cảnh báo
về việc tập trung quân Đức dọc biên giới Đức-Xô ở Ba Lan.
Tình báo quân sự Xô-viết nỗ lực tìm trả lời cho câu hỏi,
liệu Hitler có tấn công và nếu có,
thì khi nào.
Các báo cáo tới tấp cung cấp những thời điểm khác nhau
về cuộc xâm lược Liên Xô của Đức.
Ban đầu, họ cho rằng sẽ diễn ra vào tháng 3 hay 4/1941.
Sau đó có báo cáo mới rằng sẽ hoãn đến mùa hè,
nhưng tùy thuộc nước Anh có đầu hàng hay không.
Rồi có tin mới toanh rằng sẽ hoãn đến năm 1942.
Tình hình còn phức tạp thêm bởi thực tế rằng
người duy nhất biết chính xác dự tính của Hitler
chỉ có chính Adolf Hitler. Ông ta chỉ ký lệnh thông qua
Chiến dịch Barbarossa xâm lược Liên bang Xô-viết
ngày 10/6/1941,
12 ngày trước giờ thực hiện.
Ngày 18/6, Maskva bắt đầu
nhận được báo cáo từ điệp viên K (xin lỗi danngoc không thể tìm ra tên gọi này):
“Các đơn vị lục quân Đức đang chuẩn bị chuyện gì đó rất lớn. ..."
"... Rõ ràng không phải chuyện vài tháng hay vài tuần, ..."
"... mà là vài ngày nữa thôi.”
Nhưng mặc dù có cảnh báo, tình báo Xô-viết vẫn không thể
khẳng định chính xác điều gì, kể cả bức điện tín Thụy Điển
của Vorontsov.
Chỉ vài tuần sau,
Vorontsov sẽ được thăng làm Tham mưu trưởng Tình báo Hải quân,
và đến tháng 9, ông thành Trưởng ban tình báo.
Đây là công việc ông sẽ nắm giữ thêm 10 năm nữa,
nhưng ông phải tiếp quản một cơ quan tình báo
đã đui mù trước cuộc xâm lăng bất ngờ của Đức.
Chiến dịch Barbarossa
bắt đầu và mặc dù mọi cảnh báo,
Liên Xô vẫn chưa sẵn sàng.
Trong những ngày đầu của chiến tranh,
mọi trú sứ Xô-viết hợp pháp tại Đức,
các đồng minh của Đức và
tại những nước bị phe Trục chiếm đóng
đều bị chấm dứt và tất cả nhân viên sứ quán đều bị
trục xuất về Liên Xô.
“Những giấy tờ này phải bỏ vào túi ngoại giao.” “Tiêu hủy tất cả thứ còn lại.”
Tình báo quân sự Xô-viết mất liên lạc với các điệp viên
ở 11 nước Châu Âu.
Bản thân số điệp viên còn lại rất nhiều,
nhưng nếu không thể liên hệ được với Maskva thì họ chẳng mấy hữu ích.
Tình hình tương tự xảy ra với mạng lưới tình báo
được thiết lập dọc biên giới
khi quân đội Đức càn tới.
Liên lạc với hầu hết các điệp viên này bị mất,
mãi cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Các điệp viên Xô-viết hoạt động ở nước ngoài không có đủ điện đài
hay điện đài viên giỏi. Máy điện đài họ có
rất cồng kềnh và thiếu tin cậy,
thậm chí thiếu cả ắc quy.
Tầm hoạt động của các điện đài này là không quá 1.000 km,
tức là tín hiệu chỉ truyền đến được miền Tây Liên Xô.
Chúng không đủ mạnh để tới Maskva,
chứ đừng nói đến Kuibyshev, nơi Tổng hành dinh tình báo quân sự được sơ tán tới.
Mật mã và bảng mã khóa tình báo Xô-viết sử dụng
hồi đầu chiến tranh rất phức tạp và khó dùng.
Phải mất nhiều thời gian để mã hóa
và giải mã thậm chí các tin nhắn đơn giản nhất.
Tín hiệu truyền đi cũng dễ bị phản gián Đức bắt được,
họ tuần tiễu khắp thành phố với thiết bị dò hướng
để định vị các máy phát tín hiệu bất hợp pháp.
Máy dò hướng dùng ăng ten định hướng
để tìm ra nguồn phát tín hiệu điện đài.
Đến giữa thập niên 1930 nó được dùng bởi hầu hết các cơ quan phản gián.
Ba xe tải trang bị ăng ten định hướng di động
sẽ tuần tra khắp thành phố,
lùng tìm các tín hiệu điện đài bất thường.
Họ sẽ căn 3 góc theo tín hiệu
để định vị chính xác nơi đặt điện đài.
Ngay khi xác định được tòa nhà,
các đội cảnh sát sẽ bao vây
và xông vào bắt điện đài viên.
"Không được nhúc nhích!"
“Lục soát tất cả các phòng.”
“Đưa nó ra.”
“Đứng lên!”
Phản gián Đức khiến điệp viên Xô-viết gần như không thể liên lạc trực tiếp
với Maskva. Liên lạc với phần lớn số điệp viên Xô-viết trước chiến tranh
chỉ được nối lại vào năm 1945,
khi Hồng quân tiến vào Đông Âu.
Những cách liên lạc đối phó tạm thời, thường là thông qua người đưa tin,
được sử dụng để chuyển các thông tin tối quan trọng.
“Tài liệu để trong vali.”
“Chúng phải tới được Teheran. Không muộn hơn tuần sau.”
Nhưng trong khi vào thời bình người đưa tin có thể đi lại khắp Châu Âu,
thời chiến mọi chuyện lại khác hẳn.
Họ không chỉ gặp nguy hiểm bị Gestapo (Cơ quan Mật vụ SS) bắt,
mà còn có thể bị giết trong các cuộc tấn công vào tàu thủy,
tàu hỏa, đường bộ.
Tại Trung Hoa và Nhật, các điệp viên Xô-viết vẫn hoạt động tích cực.
Một vài “trú sứ” bất hợp pháp tiếp tục hoạt động trong vùng tạm chiếm
ở Pháp, Bỉ và Hà Lan.
Tình báo Xô-viết vẫn khá hiệu quả ở Mỹ,
Anh và các nước trung lập Thụy Điển và Thụy Sĩ.
Tháng 7/1941, Stockholm. Ba tuần sau khi Đức tấn công Liên Xô.
Nhìn bên ngoài, nhà kho trữ cá gần bến cảng
của thủ đô Thụy Điển trông bình thường như mọi tòa nhà khác xung quanh.
Nhưng bên trong nó chứa một bí mật.
Đây là nơi đóng của Ban Mã hóa và Giải mã
của Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Thụy Điển.
Allan Nyblad, một người đưa tin của Bộ Chiến tranh Thụy Điển,
đang cân nhắc mình phải làm gì.
Bộ Tổng tham mưu tin tưởng giao cho ông chuyển đi các giấy tờ khẩn cấp và quan trọng nhất của họ.
Ông là người tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và chỉ
trao gói hàng của mình tận đúng tay người nhận theo lệnh.
Điều này không có gì quá đặc biệt, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh ấn tượng với tính tuyệt đối của ông.
Nhưng chính quyền Thụy Điển không biết rằng Nyblad
là cộng sản và là điệp viên Xô-viết.
Để thuận tiện cho người đưa tin đi lại,
xe đạp của họ gắn biển số đặc biệt,
tức là sẽ không bị cảnh sát địa phương chặn lại.
Một hôm, sau khi nhận được gói hàng phải gửi đến Bộ Tổng tham mưu,
Allan Nyblad đạp xe qua khu nhà kho yên tĩnh trên đường đi,
nhưng đột ngột quay ngoặt về một khu vắng vẻ rồi xuống xe.
Sau khi kiểm tra không bị ai theo dõi,
ông tháo biển số xe đặc biệt ra
và thay bằng biển xe thường.
Ông đến một ngôi nhà hai tầng, rồi bước vào.
“Vào đi!”
“Có một gói khẩn từ Bộ Tổng tham mưu. Tôi phải chuyển nó đến nơi sau 10 phút nữa.”
“Ổn thôi. Chuẩn bị máy ảnh đi, tôi sẽ lo mở gói.”
Semyon Starostin làm việc chính thức cho một công ty du lịch Nga.
Ông cũng làm việc cho tình báo Xô-viết.
Semyon Kuzmich Starostin, mật danh “Kent”,
gia nhập Tình báo quân sự Xô-viết năm 1937,
và được gửi tới Scandinavia năm 1939.
Vỏ bọc ngụy trang của ông bao gồm công việc
làm giám đốc một công ty du lịch Nga
tổ chức du lịch tại Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch,
cũng như làm đại diện cho hãng hàng không quốc gia Liên Xô Aeroflot.
Tháng 11/1941,
ông quay về Liên Xô khi một điệp viên của ông bị bắt.
Khi tất cả tài liệu đã được chụp xong,
Starostin bỏ hết giấy tờ vào một phong bì mới,
ông có trong tay rất nhiều con dấu của các cơ quan của Thụy Điển.
Giá trị của công tác tình báo này thật khổng lồ. Nhờ “Kent”,
Maskva nhận được báo cáo hàng ngày về hoạt động của địch dọc khắp tuyến mặt trận phía Đông,
do người Thụy Điển vẫn theo dõi phía Đức
và đã bẻ mã được họ.
Năm 1940, Thụy Điển nghi ngờ Đức có kế hoạch xâm lược nước mình.
Stockholm tìm cách phát hiện trước dự định của Hitler.
Giáo sư toán người Thụy Điển Arne Beurling một mình làm việc
với chỉ có giấy và bút chì đã bẻ được mật mã quân sự và ngoại giao của Đức
trong vòng có 2 tuần. Điều này cho phép Thụy Điển giải được các liên lạc cáp ngầm
đã mã hóa của Đức, và tất cả những gì người Thụy Điển biết,
giờ đều được gửi về Maskva.
Tháng 1/1942,
Nyblad bị Thụy Điển tóm và bị kết án 12 năm khổ sai.
Nhưng đến lúc đó Maskva đã có được thông tin làm cách nào Thụy Điển bẻ được mã của Đức.
Đến tháng 6, khi Đức phát hiện ra
Thụy Điển đã bẻ được mã,
phía Xô-viết đã có thể tự bẻ khóa được hệ mã mới của Đức.
Ngày 18/10/1941, Tokyo.
Đế quốc Nhật và Liên Xô đang giữ một tình trạng
hòa hoãn đầy căng thẳng.
Rạng sáng, cơ quan phản gián Nhật tung một chiến dịch
để đập tan mạng lưới gián điệp Xô-viết bất hợp pháp.
Một trong những người họ bắt sáng hôm ấy là Richard Sorge,
“trú sứ” của nhóm.
Trong khi ông bị toán áp tải cẩn mật dẫn đi,
căn hộ của ông bị lục soát kỹ lưỡng.
Người Nhật tìm thấy những tài liệu buộc tội,
máy ảnh và một xấp ảnh chụp bản sao.
“Lục lại lần nữa! Tìm kỹ tối đa.”
Khi lục soát nhà của Max Clausen, điện đài viên của nhóm,
họ tìm thấy điện đài và bảng mã.
“Đã tìm thấy tài liệu khả nghi đây! Lục kỹ hơn đi!”
Richard Sorge, cũng được biết
với mật danh “Sonter”, “Schwartz”, “Ramsay”
và “Inson”, sinh ra tại Đông Nam nước Nga, nhưng khi còn bé
đã cùng gia đình chuyển tới sống ở Đức.
Sau khi chiến đấu bên phe Đức trong Thế Chiến thứ I,
Sorge trở thành một người cộng sản nồng nhiệt
và chuyển đến Maskva. Tại đây ông được Tình báo quân sự Xô-viết tuyển dụng
rồi gửi trở lại Đức để tạo vỏ bọc làm nhà báo
và cảm tình viên Quốc Xã.
Điều này đem lại nhiều thuận lợi cho ông cho đến tận tháng 10/1941, khi ông bị người Nhật bắt.
Ba năm sau, ông bị họ treo cổ.
Năm 1964, ông được truy tặng phần thưởng Nhà nước cao quý nhất,
danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Mạng lưới của Sorge bao gồm 32 điệp viên người Nhật,
4 người Đức, 2 người Nam Tư và 1 người Anh.
Nhóm bao gồm các điện đài viên người Đức Bruno Wendt,
và người kế nhiệm Max Clausen, Gunther Stein,
phóng viên tờ Manchester Guardian, nhà báo Nam Tư Branko Vukelic, nhà báo Nhật Miyagi Yotoku
và nhà báo Nhật Hatsumi Ozaki,
một cố vấn của Thủ tướng Nhật Konoe.
Một nguồn tin đáng giá khác của nhóm là Eugen Ott,
Đại sứ Đức tại Nhật,
và hoàn toàn tin cậy Richard Sorge.
Việc Sorge bị bắt và nhóm Tokyo của ông
bị bóc gỡ là một đòn cay đắng với Tình báo Xô-viết.
Ông vốn là nguồn tin vô giá về các toan tính
của Nhật và Đức tại Viễn Đông.
Vụ lớn nhất của Sorge là xác minh được Nhật Bản không có dự định
tấn công Liên Xô trong năm 1941 như Stalin lo sợ.
Từ Tokyo, tháng 9/1941 ông gửi về một điện tín:
“Theo lời Ozaki Bí thư Nội các Thủ tướng, ..."
"... Chính phủ Nhật đã quyết định ..."
"... sẽ không có hành động chống Liên Xô trong năm nay, ..."
"... nhưng quân đội vẫn đóng ở Mãn Châu để phòng có thể tấn công vào mùa xuân tới ..."
"... nếu Liên Xô bị Đức đánh bại."
"... Sau ngày 15/9, ..."
"... vùng Viễn Đông của Liên Xô có thể được xem là an toàn ..."
"... không bị Nhật tấn công.”
Thông tin vô cùng quan trọng này đến vào lúc quân Đức vừa tung đòn tấn công cuối cùng
vào Maskva.
Nó cho phép Bộ Tổng TM Stavka rút nhanh 32 sư đoàn từ Sibiri
và Viễn Đông về cứu nguy cho thủ đô.
Ngày 5/12/1941,
các sư đoàn này dẫn đầu cuộc tổng phản công
xua quân Đức lùi xa khỏi cửa ngõ Maskva.
Đó là một chiến thắng quan trọng mang công lớn của Richard Sorge.
Tình báo quân sự Xô-viết cũng có tai mắt của mình tại Washington.
Từ đây, Maskva cũng nhận được tin tức về các dự định của Nhật trong năm 1941.
Lev Sergiev làm việc trong Lãnh sự quán Liên Xô
với vai lái xe cho tùy viên quân sự. Ông cũng là một điệp viên mang
mật danh “Morris”.
Suốt hè năm đó, ông gửi tin về Maskva rằng Nhật không có dự định
tấn công Liên Xô.
“16/7/1941. Morris gửi Maskva. ..."
"... Thái độ của Nhật đối với Liên Xô là - ..."
"... - chờ đợi và theo dõi.”
Tháng 2/1942, Berlin.
Người đứng đầu tình báo quân sự Đức, Abwehr,
là Đô đốc Wilhelm Canaris.
Mùa xuân năm đó, ông ta đang rất thất vọng.
Hitler lên án Canaris là không có được thông tin chính xác về quy mô
dự trữ của Liên Xô,
và vì đã để cho Wehrmacht bất ngờ trước cuộc phản công
của Liên Xô mùa đông trước.
Điều này và thời tiết khắc nghiệt là lý do để các tướng lĩnh Đức giải thích cho thất bại của họ.
Đô đốc Wilhelm Canaris lên làm xếp Abwehr từ năm 1933.
Ông ta là người chống cộng tận tâm,
đó là lý do từ đầu ông ta ủng hộ cho Hitler và Đảng Quốc Xã.
Nhưng đến 1938, ông ta đã tin rằng Hitler sẽ dẫn nước Đức đến chỗ sụp đổ
và bắt đầu tích cực âm mưu chống lại Quốc trưởng.
Năm 1942, ông ta lập tuyến liên lạc bí mật với Tình báo Anh.
SS đã nghi ngờ Canaris
và ông ta bị cách chức tháng 2/1944.
Ông ta bị bắt sau âm mưu đánh bom Hitler vào tháng 7/1944
và bị tống vào trại tập trung một tháng trước khi chiến tranh kết thúc.
Là người chống cộng,
Canaris vô cùng quan tâm đến cuộc chiến chống Liên Xô.
Nhưng Abwehr vẫn không thể cung cấp cho Bộ Tổng TM Đức OKH các ước tính chính xác
về sức mạnh quốc phòng của Liên Xô trước khi Đức bắt đầu cuộc xâm lược.
Họ cũng không thể cài điệp viên trong Bộ Tổng TM Liên Xô.
NKVD vô cùng lão luyện trong việc phát hiện gián điệp địch.
Rất nhiều tù binh Liên Xô được Abwehr tuyển dụng làm gián điệp,
rồi thả qua chiến tuyến,
nhưng phần lớn bọn họ đã biến mất tăm
trong nội địa Liên Xô. Một số ra tự thú,
một số bị NKVD bắt, nhiều người chỉ đơn giản là tìm về nhà.
Rất ít trong số điệp viên ấy quay trở về,
và báo cáo của họ chẳng có mấy giá trị.
Canaris phấn khởi hơn vào tháng 12/1941,
khi nhận được một báo cáo đột xuất của Trưởng ban tình báo Cụm Tập đoàn quân Trung Tâm:
“Tại Maskva tồn tại ..."
"... tổ chức chống cộng ngầm “Prestol” (Ngai vàng), ..."
"... tìm cách lan truyền và nuôi dưỡng thái độ chống cộng ..."
"... trong dân chúng."
"... Lãnh đạo là Sadovsky, một thi sĩ bảo hoàng, ..."
"... và vợ ông ta, từng là ngự tiền phu nhân của Hoàng hậu Nga. ..."
"... Một thành viên của nó là Demianov, cháu của một thủ lĩnh Cossak ..."
"... và gốc gác quý tộc, đã liều vượt chiến tuyến ..."
"... để báo cho chúng ta về “Ngai vàng”.”
Khi bị hỏi cung, Demianov tuyên bố đã liên hệ
với tình báo Đức từ 1940.
Người mà anh ta liên hệ có tên là “Storsh”.
Sau khi câu chuyện được kiểm tra kỹ lưỡng, Demianov được cho mật danh “Max” và gửi
trở lại Liên Xô.
Nhiệm vụ của Max là tổ chức
một nhóm chống Xô-viết hoạt động ngầm tại các thành phố lớn,
điều phối một chiến dịch phá hoại và thiết lập mạng lưới
thu thập tin tức về việc di chuyển của lực lượng Hồng quân.
Quan trọng nhất là Max sử dụng quan hệ của mình trong Bộ Tổng TM Stavka
và Bộ Đường sắt để phát hiện việc chuyển quân bằng đường sắt
(Max được NKVD bố trí làm sĩ quan liên lạc trong Sở chỉ huy của Rokossovky-danngoc).
Đến cuối chiến tranh,
Richard Kauder, một sĩ quan Abwehr, bị người Mỹ bắt được.
Trong một buổi hỏi cung, ông ta nói rằng
trong năm 1942 và 43 Max đã cung cấp
những tin tức rất giá trị thường được chuyển thẳng lên Bộ Tổng Tham mưu Wehrmacht.
Người Đức tin rằng Max đã lọt được vào Bộ Tổng TM Stavka
làm sĩ quan liên lạc cấp thấp.
Kauder tuyên bố thêm rằng “Ngai vàng”
đã lập được nhiều nhóm ở Maskva và Gorky,
liên lạc trực tiếp với Abwehr ở Berlin.
Họ liên lạc bằng 3 điện đài do người Đức cung cấp.
Và tất những điều này đều diễn ra ngay dưới mũi của cơ quan
phản gián Xô-viết khét tiếng.
Mãi sau chiến tranh, người Đức vẫn chưa phát hiện ra rằng
tổ chức ngầm chống Xô-viết này được dàn dựng bởi ...
... NKVD.
Tình báo Xô-viết đã
kỹ lưỡng tạo ra các điệp viên chống Xô-viết có vẻ đáng tin cậy
rồi dùng họ để xâm nhập vào Abwehr.
Sau đó các điệp viên này sẽ cung cấp cho địch các thông tin giả.
Nó được gọi là “Chiến dịch Tu viện”.
Từ thập niên 1930, nhà thơ Boris Sadovsky
đã được NKVD sử dụng làm mồi nhử để dụ
các kẻ chống đối chế độ tiết lộ tình cảm chống Xô-viết.
Đã có 3 trường hợp
công an mật bắt bạn của ông, nhưng bản thân nhà thơ
luôn được tự do.
Aleksandr Demianov đúng là một cựu quý tộc và trở thành
điệp viên NKVD năm 1929.
Ông thâm nhập vào Tình báo Đức từ năm 1942
và thậm chí được Abwehr huấn luyện đặc biệt.
Về sau ông được nhận Huân chương Sao Đỏ vì thành tích đặc biệt của mình
trong Chiến dịch Tu viện.
Trong khi đó, tình báo Đức tiếp tục tìm cách tuyển dụng
trong hàng ngũ tù binh Xô-viết.
Từ mùa xuân 1942,
điệp viên của Canaris đều đặn báo cáo cho ông ta về tiến triển
mà các cựu Hồng quân này đạt được.
Tình báo Đức đã thành thạo được kỹ thuật biến các công dân Xô-viết
chống lại Stalin và chủ nghĩa cộng sản Liên Xô.
Đô đốc hy vọng rằng các tân binh này sẽ cung cấp tin tức tình báo có giá trị,
nhưng một lần nữa ông ta phải thất vọng.
Tháng 10/1942, Poltava, thuộc vùng Ukraina bị chiếm đóng.
Tại trường tình báo của Cụm Abwehr 102,
các cựu quân nhân Xô-viết đang nghe giảng cách để thu thập được bí mật
quân sự trong khi hoạt động sau phòng tuyến địch.
Bỗng cửa mở và hiệu trưởng bước vào.
“Ngồi xuống.”
“Tôi biết nhiều người các anh tin rằng không thể sống sót trở về sau khi vào lãnh thổ Liên Xô."
“Và đây là một người như vậy.”
“Người này là một anh hùng, đã đích thân vượt qua chiến tuyến để chiến đấu chống Stalin."
“Anh đã vượt qua được bao nhiêu lần?”
“Ba lần. Tất cả đều là sự thật.”
Điều mà không ai trong Abwehr biết là Piotr Pryadko,
cựu sĩ quan chỉ huy trong Tập đoàn quân 5 Xô-viết,
đã thâm nhập vào tình báo quân đội Đức
theo lệnh của NKVD.
Mọi thông tin ông cung cấp cho địch thực ra đều là tin giả
được soạn ở Maskva.
Vai trò của Pryadko trong Cụm Abwehr 102
là làm giả giấy tờ cho học viên.
Ông luôn tạo ra các sai sót nho nhỏ để đảm bảo điệp viên sẽ bị bắt khi
giấy tờ của người này bị kiểm tra đúng cách.
Tin giả của ông cũng khiến nhiều sĩ quan tình báo cao cấp
của Đức bị cách chức.
Pryadko gửi về các thông tin
về 101 điệp viên làm việc cho Đức
và 24 thành viên của Abwehr.
Tháng 12/1942,
ông trở về với Hồng quân.
Sau đó ông được trao Huân chương Cờ Đỏ,
vì lòng dũng cảm và anh dũng.
Trong chiến tranh,
Abwehr đã bị xâm nhập bởi hàng trăm điệp viên Xô-viết.
Họ thu thập thông tin về địch và cài cắm thông tin giả
về Hồng quân và các dự định của Hồng quân.
Họ đã thành công trong việc biến chính cơ quan tình báo của Đức
thành nguồn cung cấp tin giả lớn nhất cho Bộ Tổng TM địch, một cách đầy hiệu quả.
Ngày 13/9/1943, Paris.
Một ô-tô chở hai người khách
dừng trước một cửa hàng dược.
Một người rời xe và bước vào.
Một lát sau người kia cũng bước vào.
“Hắn chạy thoát qua cửa sau. Ta phải phong tỏa khu vực này.”
Người đang chạy là Leopold Trepper,
điệp viên Xô-viết đã đồng ý làm việc cho Đức vài tuần trước.
Nhưng giờ ông chuồn khỏi tay những kẻ bắt mình.
Đám người Đức điên tiết tổ chức cuộc lùng sục khắp thành phố.
Ngay từ 1938,
Trepper đã lập ra một mạng lưới tình báo Xô-viết rất mạnh
ở khắp Bỉ,
Hà Lan, Pháp và Ý. Nó có khoảng 300 thành viên
và Trepper cất nó trong đầu cho tới khi bị Abwehr bắt
tháng 11/1942.
Thông qua nhóm của ông, Liên Xô cũng nhận được
tin tình báo từ Rudolf Rössler.
Rudolf Rössler, mật danh “Lucy”,
là một trong những điệp viên giá trị nhất trong Thế Chiến thứ II.
Là người Đức lưu vong định cư tại Thụy Sĩ,
ông làm việc cho Tình báo Xô-viết vì mục đích lý tưởng.
Ông cung cấp cho Liên Xô tin tức quan trọng
về chiến dịch tấn công Kursk của Đức năm 1943.
Nguồn cấp tin riêng của Rössler, mật danh VYRDO,
hiện vẫn là ẩn số. Tại Phiên tòa Nuremberg,
Alfred Jodl tham mưu trưởng chiến dịch của Bộ Tổng TM Lục quân OKW
nói rằng thông tin về Chiến dịch Kursk đến tay Maskva
còn trước cả khi nằm trên bàn của ông ta.
Sau chiến tranh, Rössler tiếp tục cung cấp cho Liên Xô
thông tin thu thập được về Tây Đức, khiến ông bị bắt và
bị tù 1 năm tại Thụy Sĩ. Ông qua đời chẳng bao lâu
sau khi được thả năm 1958.
Sau khi bắt được Trepper, phản gián Đức
thành công trong việc phá sập hầu hết mạng lưới của ông.
Tại Berlin, họ gọi điện đài viên Xô-viết là pianist (nghệ sĩ dương cầm).
Mạng lưới của Trepper liên quan đến ít nhất 10 pianist,
do đó mang mật danh là “Dàn nhạc Đỏ”.
Phản gián Đức đã ép được một số
điện đài viên của “Dàn nhạc Đỏ”, bao gồm cả Trepper,
gửi tin giả về cho Maskva.
Đô đốc Canaris đã có được đột phá.
Phía Xô-viết không chỉ tin vào tin giả mà còn đề nghị cung cấp thêm.
Sau khi trốn thoát, Trepper với sự giúp đỡ của cộng sản Pháp,
đã tìm cách báo về Maskva rằng mạng lưới của mình đã bị khống chế.
Thông tin nhận được từ các điện đài viên nọ cuối cùng đã được hiểu
theo đúng bản chất.
Tháng 11/1944,
2 điệp viên Xô-viết đang tiến hành theo dõi 24/24
khúc bờ biển Na Uy.
“Phía chân trời thấy có khói.”
“Một thiết giáp hạm.”
“Thêm mấy khu trục hạm."
"Tốt. Ghi lại. Ta gần gửi điện tín về.”
12 tiếng sau, một sĩ quan tham mưu
bước vào phòng của trưởng ban tình báo hải quân
Mikhail Vorontsov. “Máy bay trinh sát xác nhận có tàu trong khu vực đó.”
“Các anh thấy chiếc Tirpitz?” “Người Anh đang tìm cách diệt nó suốt 3 năm nay!”
“Hãy cho đồng minh của chúng ta thêm một cơ hội.”
“Báo ngay cho người Anh tọa độ của chiếc thiết giáp hạm.”
Tirpitz là một trong vài vũ khí đáng sợ còn lại của Hải quân Đức.
Cho đến lúc này, nó đóng vai trò trực tiếp khá mờ nhạt trong cuộc chiến.
Nhưng sự có mặt của nó ở Na Uy đe dọa các đoàn vận tải Biển Bắc đến Liên Xô
và ghìm chân một số lượng đáng kể tàu chiến Anh.
Là chị em với chiếc Bismarck,
nó vẫn là một đối thủ ghê gớm.
Ngày 12/11/1944,
các máy bay ném bom Lancaster của Anh chở các quả bom
Tallboy 5 tấn bay đến vịnh Tromsø ở Na Uy.
Người Đức không hay biết gì về cuộc không kích,
Luftwaffe không thấy xuất hiện.
Hai quả bom khổng lồ loại đó đã trúng mạn trái của Tirpitz,
phá một lỗ khổng lồ trên vỏ tàu.
Khi nước tràn vào, nó nặng nề nghiêng rồi lật úp.
Chiếc Tirpitz bị đánh đắm khiến
1.000 trong số 1.700 thủy thủ đoàn thiệt mạng.
Đó là chiếc đinh cuối cùng đóng lên cỗ quan tài của Hải quân Hitler.
Kể từ mùa hè 1941,
Liên Xô đã có điệp viên cắm tại Na Uy, bao gồm các đơn vị thu thập tin tức tình báo
cho Hạm đội Bắc Hải Xô-viết.
Họ cũng tuyển dụng điệp viên từ cộng đồng địa phương
và cộng tác với quân kháng chiến Na Uy.
Một số điệp viên Na Uy được gửi tới trại huấn luyện Xô-viết.
Tại đó họ được hướng dẫn cơ bản về liên lạc điện đài
và thu thập tin tình báo.
Điệp viên sau đó được đưa về Na Uy bằng tàu ngầm.
Sau khi đêm xuống, họ sẽ được đổ bộ xuống một dải bờ biển hẻo lánh.
Các nhóm này cũng được tàu ngầm tiếp tế và sau cùng được bốc đi.
Nhiệm vụ của các điệp viên là theo dõi các đồn bốt,
hoạt động chuyển quân và tiếp vận của Đức.
Họ cũng được lệnh tìm kiếm các tàu chiến Đức
neo trong các vịnh biển Na Uy
và chuyển tin tức ấy về Murmansk.
Không quân Liên Xô và Anh có thể dùng tin tình báo này
để không kích các mục tiêu Đức có giá trị ở Na Uy và Phần Lan.
Sau khi nước Đức đầu hàng tháng 5/1945,
nhiều người đã có thể ăn mừng nhẹ nhõm,
nhưng cơ quan tình báo vẫn không thể xả hơi.
Đã rõ là tại Washington và London,
sự trỗi dậy của Liên Xô đã tạo ra nỗi nghi ngờ to lớn.
Việc thiếu tin cậy qua lại nổi lên khi kẻ thù chung đã bị đánh bại.
Tháng 4/1945,
Thủ tướng Anh Winston Churchill ra lệnh cho Bộ tham mưu của mình
nghiên cứu khả năng tấn công Liên Xô,
bằng chiến dịch mang mật danh “Unthinkable”.
Cuộc nghiên cứu được tiến hành bởi Ban tham mưu hỗn hợp các quân chủng Anh.
Báo cáo vạch ra một kịch bản theo đó 47 sư đoàn
Anh Mỹ chiến đấu cùng quân đội Ba Lan
và 12 sư đoàn Đức được tái vũ trang sẽ tiến hành cuộc tấn công bất ngờ
vào Hồng quân ở Tây Bắc Châu Âu.
Ban tham mưu kết luận rằng nước Anh sẽ phải
tiến hành một cuộc chiến kéo dài và nhiều thiệt hại,
và ngay cả thế thì khả năng chiến thắng cũng vô vùng đáng nghi ngờ.
Trong lời nhận xét về bản kế hoạch này, Churchill nói rằng đây là một biện pháp
phòng ngừa cho một tình huống mang tính giả thuyết cao.
Ngày 18/5/1945,
tùy viên quân sự Liên Xô ở London, Thiếu tướng
Ivan Skliarov, đã chuyển thông tin về Chiến dịch tối mật
“Unthinkable” về cho Maskva.
Nguồn tin của Skliarov
là điệp viên “X” mà danh tính cho đến ngày nay
vẫn còn là bí mật. Trong vài tuần sau đó, cũng điệp viên này đã chuyển cho
Skliarov nhiều thông tin có giá trị về Chiến dịch “Unthinkable”,
bao gồm cả quy mô lực lượng Anh và Mỹ tham gia.
Tháng 6/1945, Nguyên soái Zhukov
nhận được chi tiết về kế hoạch này và lập tức bố trí lại lực lượng Xô-viết ở Đông Đức.
Ông ban lệnh cho Hồng quân củng cố phòng thủ
và theo dõi sát sao lực lượng của đồng minh phương Tây.
Churchill biết quân Anh Mỹ bị Hồng quân vượt trội về quân số,
quan trọng hơn ông ta biết rằng dư luận công chúng
vẫn chính trị đều không đồng tình cho một cuộc chiến như vậy vào năm 1945.
Người Mỹ quan tâm hơn đến việc nhờ Liên Xô
giúp đánh Nhật. Chiến dịch “Unthinkable” …
... chỉ dừng lại như vậy.
Tháng 7/1945, trong Hội đàm Postdam,
Tổng thống Mỹ Harry Truman đã đồng ý với Thủ tướng Anh
việc đề cập với Stalin rằng Hoa Kỳ đã phát triển
được thứ vũ khí mới có sức hủy diệt phi thường.
Truman đã ngạc nhiên trước phản ứng của vị lãnh đạo Liên Xô.
Vài phút sau, trong khi đứng chờ xe,
Churchill hỏi Truman sự việc như thế nào. “Ông ta còn không thèm hỏi lại”
Truman trả lời.
Các nguyên thủ Anh và Mỹ cho rằng đơn giản là Stalin
không hiểu về tầm quan trọng của điều ông ta được đề cập.
Nhưng họ đã lầm.
Kể từ 1942, tình báo Xô-viết
đã thu thập tin tức về chương trình bom nguyên tử của Đồng Minh.
Có trên 10 điệp viên cung cấp tin cho Liên Xô.
Nhờ nỗ lực của họ, Liên Xô
đã thử quả bom nguyên tử đầu tiên của mình ngay từ năm 1949.
Tháng 2/1945, trong 1 bức thư gửi cho vị tiền nhiệm của Truman,
Tổng thống Roosevelt, Stalin đã ám chỉ về hiệu quả của tình báo Xô-viết:
“Các vị tiền bối khôn ngoan, tôi có thể đảm bảo với ngài, ..."
"... đều rất chân thành và khiêm tốn thực hiện trách nhiệm của mình. ..."
"... Thận trọng và không gây hiềm khích, ..."
"... những người ấy đã tự chứng tỏ được bản thân qua hành động, ..."
"... rất nhiều lần.”
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.