Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.
Từ Hắc Hải cho đến Bắc Hải, Hải quân Xô-viết lao vào một cuộc chiến sinh tử
nhưng đã hầu như bị quên lãng, dẫn tới một trong những thảm họa hàng hải lớn nhất trong lịch sử.
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.
Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài
của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
CUỘC CHIẾN TRÊN BIỂN.
Trên boong một tàu chiến Đức,
thủy thủ đang đẩy chiếc thùng đựng một quả thủy lôi to về phía mạn tàu.
“Đã sẵn sàng thả thủy lôi.”
“Thủy lôi đã thả!”
Lúc đó là gần nửa đêm ngày 21/6/1941,
trước ngày Đức xâm lược Liên bang Xô-viết,
Tàu chiến Đức đang bận rộn thả thủy lôi trong Vịnh Phần Lan.
Chỉ còn vài giờ trước khi cuộc không kích đầu tiên của Đức giáng xuống Liên bang Xô-viết,
và Đại sứ Đức ở Maskva chuyển văn bản Tuyên chiến.
Nhưng tại Biển Baltic này, chiến tranh đã bắt đầu.
Không như Lục quân và Không quân, Hải quân Xô-viết cảnh giác hơn.
Từ trước đó 3 ngày, họ đã ở mức báo động cao.
Tàu chiến và máy bay của họ đều đặn tuần tra
để cảnh báo sớm bất cứ cuộc tấn công nào sắp xảy ra.
Ngay trước nửa đêm ngày 21/6,
Hải quân chuyển sang báo động đỏ bởi Tư lệnh, Dân ủy Hải quân Nikolai Kuznetsov.
Nhưng trong khi các sân bay Xô-viết bị giã nát vào ngày đầu tiên của cuộc chiến,
Hải quân hiếm khi bị đánh phá.
Căn cứ hải quân chính trên Biển Baltic ở Tallinn thậm chí không bị tấn công.
Nhưng sự huy động của Hải quân vẫn được rất nhiều người thán phục.
“Các thủy thủ chú ý! Để thành công hoàn thành nhiệm vụ này…”
“Đồng chí thủy thủ trưởng, đó không phải máy bay ta!”
Thuyền trưởng tàu ngầm Piotr Grishenko đang ngủ khi quân Đức tấn công.
“ - Grishin nghe đây! - Nghe rõ.”
Nhưng không chỉ căn cứ tàu ngầm bị tấn công
mà cả sân bay cũng vậy.
Nếu các máy bay ném bom nhắm vào hạm đội Xô-viết,
họ vẫn có nhiều cơ hội để thoát đi và tránh vào cảng.
Nhưng quân Đức lên kế hoạch thay vì thế là nhốt chặt tàu Xô-viết trong cảng bằng thủy lôi.
Hải quân Xô-viết được chia thành 4 vùng hoạt động xa nhau:
Biển Baltic, Biển Đen, Biển Bắc và Viễn Đông.
Khoảng cách giữa chúng quá lớn,
chặng đường biển từ Vladivostok tới Leningrad dài gần 14.000 km.
Năm 1941, Hải quân Xô-viết chỉ sở hữu vài tàu chiến lớn kiểu hiện đại.
Thay vào đó, họ tập trung phát triển tàu ngầm và tàu chiến cỡ nhỏ.
Một chiến lược được hậu thuẫn bởi nhiều lý thuyết gia hải quân Xô-viết trẻ tuổi.
Lập luận của họ như sau: 1 tàu ngầm có thể vô hiệu hóa 1 thiết giáp hạm.
Nhiều tàu ngầm có thể ngăn cản hoạt động của nhiều hạm đội cùng lúc.
Học thuyết được chính thức chấp thuận. (Các học thuyết quân sự của Nga-Liên Xô luôn thiên về phòng thủ-danngoc)
Dân ủy Quốc phòng Kliment Voroshilov tuyên bố:
“Chúng ta chỉ muốn bảo vệ bờ biển và biên giới của mình ... "
"Lực lượng không quân hải quân và tàu ngầm sáng chói của ta sẽ bẻ gãy mọi cuộc tấn công của kẻ thù.”
Liên Xô bắt đầu một chương trình khổng lồ xây dựng hạm đội tàu ngầm.
Hải quân tiến hành thao luyện, trong đó tàu ngầm thực tập phối hợp với các pháo đội duyên hải,
máy bay và tàu chiến nhẹ để đánh lui một cuộc tấn công của hải quân địch.
Ngay trước chiến tranh, Hải quân Xô-viết có 3 thiết giáp hạm,
7 tuần dương hạm nhẹ, 54 khu trục hạm,
215 tàu ngầm, 22 tàu hộ tống,
290 tàu phóng lôi và 62 tàu săn biển.
Cả 3 thiết giáp hạm đều đóng từ thời Sa hoàng.
Hạm đội Baltic là mạnh nhất với 2 thiết giáp hạm,
2 tuần dương hạm nhẹ kiểu hiện đại và 21 khu trục hạm.
Hạm đội Biển Bắc là yếu nhất với chỉ 8 khu trục hạm.
Trái lại, Hải quân Đức có 3 thiết giáp hạm, 8 tuần dương hạm,
34 khu trục hạm và 155 tàu ngầm.
(Chưa tính hạm đội Phần Lan-danngoc).
6:30 sáng ngày 22/6/1941,
sở chỉ huy Hạm đội Baltic nhận lệnh từ Dân ủy Hải quân Kuznetsov.
“Gửi Hạm đội: bắt đầu rải thủy lôi theo kế hoạch phòng thủ. Đô đốc Kuznetsov.”
Nhưng cách giải quyết như vậy không mấy hiệu quả,
như Đô đốc Panteleyev đã nêu:
“Hải quân phát xít không có dự định tiến vào Vịnh Phần Lan ..."
" ... Trái lại, chúng dự tính nhốt chặt chúng ta trong đó.”
Một tuần dương hạm, nương theo làn khói che phủ,
từ từ tiến vào cảng Tallinn.
Cứ vài phút, pháo lớn của nó lại gầm lên.
Tuần dương hạm Kirov bắn đám lính Đức đang tiến vào thủ đô Estonia.
Đối phương đáp trả bằng trọng pháo.
Đó là lý do chiếc Kirov phải liên tục di chuyển, nấp sau làn khói.
Đến cuối tháng 8/1941,
Hồng quân đã buộc phải bỏ lại phần lớn vùng Baltic đã chiếm được.
Chỉ còn lại Tallinn, pháo đài Xô-viết cuối cùng ở Estonia.
Quân Đức và đồng minh Phần Lan kiên quyết ngăn chặn cuộc sơ tán Tallinn theo đường biển.
Chỉ có hai tuyến hàng hải tới thành phố:
một men theo bờ biển và một xuyên giữa Vịnh Phần Lan.
Người Đức và Phần Lan rải đầy tuyến đường giữa này 2.500 quả thủy lôi.
Thủy lôi là loại vũ khí hiệu quả cao trên biển,
gây ra 1/5 tổn thất tàu biển trong toàn cuộc chiến.
Loại thủy lôi EM (Einheitamine) của Đức tức Thủy lôi thả neo,
bao gồm một quả cầu rỗng có 7 mấu vây.
Bên trong có một hộp không thấm nước chứa 300 kg chất nổ.
Phần lớn khối cầu là rỗng nên thủy lôi có thể nổi.
Quả thủy lôi được lăn trên boong bằng xe đẩy gắn với nó bằng dây cáp.
Xe đẩy này công dụng như chiếc neo để giữ thủy lôi yên vị.
Chiều dài cáp có thể điều chỉnh để định chiều sâu thả mìn.
Các mấu thép sẽ kích nổ thủy lôi.
Khi có tàu chạm vào, nó làm vỡ bình a-xít
làm kích hoạt dòng điện đến ngòi nổ,
làm nổ thủy lôi.
Vừa đánh vừa tiến tới bờ biển, quân Đức khai hỏa vào tuyến hàng hải.
“Khói ngụy trang. Chẳng thấy gì. Ta đang bắn cái gì vậy?”
Nhưng cả trọng pháo lẫn thủy lôi
đều không ngăn nổi các tàu vận tải Xô-viết đến được Tallinn.
Các tàu quét lôi Xô-viết đi đầu,
bởi chúng có đáy nông nên có thể an toàn bơi qua bãi thủy lôi,
kéo theo một cái lưới cắt đứt hết dây cáp.
Khi thủy lôi nổi lên mặt nước, họ dùng súng bắn nổ chúng,
tạo lối đi an toàn qua bãi thủy lôi.
Trong tháng 8, một dòng không ngớt thương binh và người tị nạn Xô-viết
được sơ tán khỏi Tallinn theo đường biển.
Nhưng các tàu quét lôi Xô-viết bị thiệt hại nặng nề.
Một số bị trúng thủy lôi thả sát mặt nước,
số khác bị chìm do thủy lôi từ TMA,
kích hoạt do từ trường vỏ tàu.
Ngày 26/8, Stalin đánh điện cho Voroshilov,
cho phép rút khỏi Tallinn và sơ tán quân đồn trú theo đường biển.
Chiến dịch này huy động một đoàn hơn 200 tàu Xô-viết.
Họ phải vượt qua bức màn sắt của máy bay và tàu phóng lôi Đức-Phần Lan,
cùng những bãi thủy lôi không thể tháo gỡ hết do thời tiết xấu.
Thời điểm khởi hành của đoàn tàu được định là ngày 28/8,
chở theo 28.000 binh lính và dân chạy nạn.
Đoàn tàu đi theo tuyến đường giữa,
nghĩa là các pháo đội duyên hải Đức-Phần Lan phải bắn hết tầm.
Máy bay ném bom bổ nhào của Luftwaffe phải vào cuộc,
trong khi các khu trục hạm Xô-viết thả khói ngụy trang để bảo vệ đoàn tàu.
Có hàng chục thủy lôi chờ sẵn trên đường,
và chúng sớm gây ra thiệt hại.
Các tuần dương hạm và khu trục hạm xông lên trước,
để góp phần phòng thủ vững chắc căn cứ hải quân ở Kronstadt.
Các tàu vận tải chậm hơn bị tụt lại sau.
Máy bay Đức lao xuống chúng như bầy kền kền.
Trong số 75 tàu vận tải rời khỏi Tallinn,
12 chiếc bị chìm bởi thủy lôi, 19 chiếc chìm do máy bay.
Nếu các tàu chiến chạy chậm lại để bảo vệ đoàn vận tải, thiệt hại có thể ít đi.
Nhưng tư lệnh hạm đội buộc phải đưa các tàu chiến trở về an toàn.
Không được phép hy sinh Hạm đội Baltic.
Tuần dương hạm Kirov về tới Kronstadt không bị hư hại gì nghiêm trọng,
cũng như vậy là 11 trong số 13 tàu ngầm. Nhưng chỉ 5 trong số 10 khu trục hạm là về đến nơi.
Trong số 28.000 người sơ tán, 2/3 đến nơi an toàn.
Nhưng có hơn 15.000 người thiệt mạng trên chặng đường 320 km từ Tallinn.
Vài ngày sau quân Đức bắt đầu tấn công Leningrad.
Các chiến hạm, được bảo toàn nhờ quyết định tàn nhẫn bỏ rơi đoàn vận tải Tallinn,
sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phòng thủ thành phố.
Hy vọng của Hitler muốn chóng vánh chiến thắng Liên Xô đã tan biến.
Khi chiến tranh bước sang năm thứ 2, người Đức ngày càng lo hơn
về các tuyến vận tải đường biển của chính họ:
tuyến vận tải thiết yếu chở quặng sắt Thụy Điển ngang qua Biển Baltic và chạy dọc bờ biển Na Uy,
chở quặng crôm băng ngang Biển Đen từ Thổ Nhĩ Kỳ trung lập.
Người Đức quay sang dùng những thủy lôi phức tạp của mình để bảo vệ các tuyến hàng hải này.
Năm 1942, họ rải những bãi thủy lôi dày đặc dọc bờ biển phía Bắc Na Uy,
được theo dõi bởi máy bay và các pháo đội duyên hải.
Nó lập tức gây hậu quả chết người lên các tàu ngầm tuần tiễu Xô-viết.
Tháng 4/1942, tàu ngầm Shch-421 trúng một thủy lôi Đức và chìm.
Cũng tháng đó, Shch-401 mất tích khi đang tuần tra.
Sau đó 3 tàu ngầm khác chìm liên tiếp trong khoảng thời gian ngắn.
Số tàu địch bị đánh chìm do tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc Xô-viết mau chóng giảm
từ 21 tàu trong nửa đầu 1942 xuống chỉ còn 4 vào nửa sau 1942.
Đổi lại là thiệt hại 9 tàu ngầm.
Thủy thủ Hạm đội Baltic phải chịu đựng mọi nỗi khắc nghiệt tại căn cứ của mình -
- thành phố Leningrad bị phong tỏa.
Người Nga gầy đói đến nỗi nhiều người bị bệnh loạn dưỡng.
Trong khi đó, các nhà máy Đức đang biến quặng sắt Thụy Điển
thành xe tăng, trọng pháo và đạn dược.
Chỉ tàu ngầm của Hạm đội Baltic mới chặn được tuyến tiếp vận này.
Ngày 2/7/1942,
S-7, dưới sự chỉ huy của Lisin, đã lọt qua được bãi thủy lôi trong Vịnh Phần Lan.
“Có điện tín mới từ Lisin.”
“Anh ấy chắc đang ở gần chỗ này.”
Thụy Điển là nước trung lập,
nhưng khi nổi lên, Lisin bị 1 máy bay Thụy Điển tấn công
và may mắn trốn thoát.
Đêm đó, Lisin đánh chìm tàu vận tải Thụy Điển Margareta chở đầy than đá.
Hai ngày sau, nó đánh chìm chiếc Lulea,
1 tàu Thụy Điển khác, đang chở quặng sắt tới Đức.
Thụy Điển tuyên bố cả 2 tàu đều bị đánh chìm trong
lãnh hải của mình, là xâm phạm chủ quyền của họ.
Phía Xô-viết phủ nhận điều này, nhưng không chứng minh được là
đã ra lệnh cho S-7 tránh xa bờ biển Thụy Điển.
Ngày 30/7, Lisin thấy thêm nhiều tàu khác.
Để tấn công chúng, ông mạo hiểm
nổi lên mặt biển chạy với tốc độ tối đa vào giữa ban ngày.
Ông tấn công ở độ sâu chỉ có 6 m.
Nếu bị phát hiện, ông có rất ít cơ hội chạy thoát.
Nhưng sự táo bạo của Lisin đã được đền đáp. Tàu vận tải Kathe của Đức bị đánh chìm.
S-7 hết sạch ngư lôi và quay đầu trở về
thì phát hiện một tàu hơi nước của Phần Lan.
“Có tiếng chân vịt ở mạn phải!” “Chuẩn bị nổi lên.”
Khẩu pháo chính trên boong đã bị kẹt, nên thủy thủ khai hỏa khẩu pháo phòng không.
Nó mất gần 400 phát mới hạ được tàu địch.
Giữa đống mảnh tàu vỡ, Lisin vớt lên
viên thuyền trưởng và thợ máy trưởng rồi chở họ về Leningrad.
Đó là một ví dụ rất điển hình về việc tàu ngầm cũng bắt giữ tù binh.
Bốn thành viên của S-7 được thưởng huân chương.
Lisin được trao danh hiệu vinh dự nhất thời ấy - Anh hùng Liên Xô.
Tháng 9/1942, chiếc S-12 dưới quyền của Turyaev lên đường tuần tiễu.
Nhưng đi được 1 ngày thì nó bị thương do máy bay Phần Lan tấn công.
Thùng dầu bị rò thành một vệt dầu loang trên mặt biển.
Thế rồi, kỹ thuật viên dò âm nghe được âm thanh của chân vịt tàu.
“- Có tiếng chân vịt phía trước!” “- Lặn xuống độ sâu 30 m.”
Bộ ắc quy của tàu ngầm gần như không hoạt động khi tàu bị thả bom chìm.
“Bom chìm!”
Tình cờ, Turyaev phát hiện ra một rãnh sâu 60 m dưới đáy biển.
Đáy biển xung quanh đó đều sâu khoảng 40 m.
Đó sẽ là độ sâu người Phần Lan xác định cho bom chìm nổ.
S-12 hạ xuống rãnh biển.
Chiếc tàu ngầm rung chuyển bởi sức nổ điếc tai của bom chìm
và móp méo vì va vào đá dưới đáy biển,
nhưng không bị hư hại nào nghiêm trọng.
Đến hửng sáng, S-12 chạy thoát.
Nhưng họ không hề có ý định chấm dứt chuyến tuần tiễu của mình.
Họ dùng ngư lôi tấn công chiếc thiết giáp hạm đã cũ của Đức Schlesien nhưng trượt.
Cuối cùng nó buộc phải về căn cứ do có bão.
Ngày 17/10/1942,
hạm trưởng Lisin đưa chiếc S-7 làm chuyến tuần tiễu thứ 2 trên Biển Baltic.
Nhưng khi đang sạc lại ắc quy trên mặt biển,
S-7 bị một tàu ngầm Phần Lan tấn công.
Bốn người đang ở trên thượng tầng, bao gồm hạm trưởng Lisin,
bị văng xuống biển. 42 thuyền viên khác chết.
Chính trong trại tù binh Phần Lan mà Lisin được nghe rằng
mình được phong Anh hùng Liên Xô.
Khi Phần Lan ký Hiệp ước Đình chiến năm 1944, Lisin trở lại quân ngũ.
Ông tham gia đánh Nhật Bản năm 1945
và giải ngũ năm 1970.
Năm 1942, tàu ngầm Xô-viết giáng một đòn tuy không lớn nhưng đáng kể
lên tuyến tiếp vận thiết yếu của Đức băng qua Biển Baltic.
Nhưng cái giá phải trả thật nặng nề.
Trong 1942, tàu ngầm Xô-viết ít nhất đánh chìm 21 tàu
và làm hư hại 9 tàu nữa,
nhưng trong 27 tàu ngầm tuần tiễu của Hạm đội Baltic,
12 chiếc không về được căn cứ.
Và nơi đã là một môi trường nguy hiểm cho tàu ngầm Xô-viết
thì nay sắp trở thành một cái bẫy chết người.
Đến cuối 1941,
đã rõ là Hitler phải đối mặt một cuộc chiến dài hơi với Liên bang Xô-viết.
Ông ta giao cho Không quân và Hải quân Đức nhiệm vụ
ngăn không cho các đoàn vận tải cứu trợ của Đồng Minh
đến được Nga thông qua Bắc Băng Dương.
Những đoàn vận tải này chở theo lượng thực phẩm, quân nhu và xe cộ vô cùng cần thiết
tới các cảng phía Bắc - Murmansk và Arkhangelsk.
Các tàu hàng từ Bắc Mỹ và Anh được ghép thành
các đoàn vận tải có tàu chiến hộ tống để đi tuyến đường đầy nguy hiểm tới miền Bắc nước Nga.
Nước Na Uy bị Đức chiếm đóng ngay sát đó
khiến việc phái tàu chiến theo hộ tống là tối cần thiết.
Các đoàn vận tải đi tới Liên Xô được đặt mật danh
là PQ, còn khi về là QP.
Đoàn vận tải Đồng Minh đầu tiên gồm 7 tàu buôn đến được Arkhangelsk
ngày 31/8/1941 mà không bị tổn thất.
“Quà từ công nhân Liên hiệp Vương quốc Anh”
Một đoàn tàu đi qua 320 km dọc bờ biển Na Uy,
với tốc độ không quá 10 knot (hải lý/giờ).
Điều kiện của chuyến hải hành thật khủng khiếp.
Các con sóng cao như tòa nhà,
nhiệt độ -30 độ C
và gió bão miền Cực Bắc không ngớt.
Các khu trục hạm của Hạm đội Biển Bắc Xô-viết đã nhập vào hộ tống trong chặng cuối
chuyến đi tới nước Nga và giúp phòng vệ chống các cuộc tấn công của máy bay và tàu ngầm Đức.
Đoàn vận tải tới Nga lần trước gồm không hơn một chục
tàu vận tải và đoàn đầu tiên 7 tàu vận tải hoàn toàn không bị thiệt hại gì.
Cuộc tấn công đầu tiên lên đoàn vận tải Biển Bắc
của tàu ngầm Đức mãi tới tháng 1/1942 mới xảy ra,
làm chìm 1 tàu vận tải của đoàn PQ-7A.
Nhưng các đoàn vận tải có số tàu ngày càng tăng nên thiệt hại cũng tăng.
Đoàn PQ-17 khởi hành tháng 6/1942 với 34 tàu,
trong đó 23 tàu đã bị máy bay và tàu ngầm Đức đánh chìm.
Thảm họa này dẫn tới việc đoàn vận tải Biển Bắc bị đình lại trong 3 tháng trời.
Hitler, kiên quyết bóp nghẹt mọi viện trợ cho Liên bang Xô-viết,
đã gửi lực lượng viện binh hùng hậu tới Na Uy,
bao gồm chiếc thiết giáp hạm mới đầy uy lực Tirpitz.
Là chị em song sinh với chiếc Bismarck,
và cũng giống Bismarck, nó gắn dàn hải pháo đáng sợ gồm 8 khẩu 380 mm.
Tàu ngầm Xô-viết K-21, dưới quyền của Lunin, cũng hướng về Na Uy.
“Mạn trái!”
Chiều ngày 5/7/1942,
sĩ quan dò âm báo nghe thấy tiếng động của một chiến hạm hạng nặng.
Đó là chiếc Tirpitz, dẫn đầu một đội tàu
đi đánh chặn đoàn vận tải PQ-70 của Đồng Minh.
Lunin quan sát mục tiêu qua kính viễn vọng,
dù ông biết trong thời tiết tốt như thế này có nguy cơ
bị cảnh giới quân Đức phát hiện.
Các tàu Đức đang di chuyển với tốc độ cao,
chỉ để một khoảng trống nhỏ cho Lunin tấn công.
“Hạ kính viễn vọng! Lặn xuống 10 m!”
Trong khi Lunin đang tiếp cận, đoàn tàu chiến đột nhiên chuyển hướng
khiến ông buộc phải hành động gấp.
“Hướng 305.” “Mạn phải.”
“Chạy hết tốc lực!”
Ở giữa đội hình tàu địch, K-21 chọn cách phóng ngư lôi vào phần đuôi tàu.
“Ống phóng… Bắn!”
Lunin phóng ra 4 ngư lôi
rồi chờ đợi tiếng nổ.
“10 giây.
"20.”
“Trúng.” “Đã trúng!”
Sĩ quan dò âm báo cáo có 2 tiếng nổ.
Lunin gửi điện tín cho Tư lệnh Hạm đội, tuyên bố đã bắn trúng Tirpitz.
Nhưng họ lầm, ngư lôi đã phóng trượt.
Trong khi đó, tại Biển Đen,
tàu ngầm Xô-viết cũng tích cực lùng diệt kẻ thù.
Thủy thủ cảnh giới của chiếc Shch-205 đang quan sát
chiếc tàu hàng không treo cờ quốc gia nào.
“Đây là bọn buôn lậu.”
Theo Hiệp ước Anh-Thổ,
tất cả quặng chrome khai thác ở miền trung Thổ Nhĩ Kỳ phải được bán cho Anh.
Trong khi đó nước Đức đang thiếu chrome nghiêm trọng,
vốn là kim loại hết sức cần cho công nghiệp vũ khí.
Nhưng Thổ cũng vẫn bán chrome cho Đức, chở theo tuyến đường biển tới Bulgaria
mà tàu ngầm Xô-viết luôn tìm cách ngăn chặn.
Chiếc tàu hàng Duatepe của Thổ đã phát hiện thấy tàu ngầm và cố bỏ chạy vào vịnh.
Thuyền trưởng Trung úy Sukhomlinov ra lệnh khai hỏa khẩu pháo trên boong.
Một cơn mưa đạn mau chóng biến chiếc Duatepe thành đống sắt bốc cháy.
Nạn nhân kế tiếp của Shch-205 là tàu vận tải Safak của Thổ.
“Các ống ngư lôi đằng mũi sẵn sàng!” “Ống ngư lôi mũi đã sẵn sàng!”
“Khoảng cách 5 giây, Ống 1 sẵn sàng!”
Hai quả ngư lôi xé tan tành chiếc tàu nhỏ.
Nhiệm vụ kế tiếp của Shch-205
là chở đạn dược tới căn cứ hải quân bị bao vây ở Sevastopol.
Trong lúc bốc dỡ đạn dược,
50 thương binh được nhét vào chiếc tàu ngầm nhỏ để sơ tán.
Shch-205 phải tránh né khoảng 40 cuộc ném bom
và tấn công bằng bom chìm, trước khi an toàn tới được Novorossiysk bên bờ Biển Đen.
Đối với tàu ngầm Xô-viết, Biển Đen không nguy hiểm
bằng những eo vịnh hẹp của Biển Baltic,
nhưng mực nước nông ven biển cũng gây nguy hiểm nhất định.
Thường thì biển không sâu quá 10-15 m
và quân Đức có thể thả thủy lôi dày đặc.
Các hạm trưởng tàu ngầm Xô-viết phải rất táo bạo và xông xáo.
Tháng 10/1942, Hạm trưởng Greshilov trên chiếc tàu ngầm nhỏ lớp M
đã đánh chìm tàu chở dầu Le Progress (Tiến Bộ) tải trọng 500 tấn của Đức
khi nó đang đi cùng tàu hộ tống gần châu thổ sông Danube.
Tháng 8/1943, Greshilov,
giờ đã là hạm trưởng tàu ngầm Shch-215 cỡ lớn hơn,
liều lĩnh đánh chìm tàu vận tải Thisbe của Thổ
ngay trước mũi 2 tàu khu trục và 2 tàu săn ngầm đi hộ tống.
Thisbe chìm xuống đáy biển cùng 1.600 tấn quặng chrome.
Năm 1944, Greshilov được trao tặng danh hiệu cao quý nhất Liên Xô -
- Anh hùng Liên bang Xô-viết.
Trở lại Biển Baltic, mối đe dọa của tàu ngầm Xô-viết
đã khiến người Đức phải có những biện pháp quyết liệt mới.
Rõ ràng chỉ thả lôi thôi thì không đủ.
Mùa xuân 1943,
quân Đức bắt đầu giăng tấm lưới thép khổng lồ ngang Vịnh Phần Lan.
Tấm lưới đôi chống ngầm này, mật danh “Walross” (Hải Mã),
kéo dài 40 km từ Đảo Naissaar gần bờ biển Estonia cho tới bờ biển Phần Lan.
Tấm lưới quá chắc chắn, thậm chí những tàu ngầm lớn nhất cũng không thể chọc thủng nó.
Để chắc ăn, người Đức và Phần Lan thả 9.000 thủy lôi trong Vịnh Phần Lan.
Trên đảo Hogland, họ xây một trạm dò âm dưới biển
để phát hiện tàu ngầm đi qua.
Khi lớp băng mùa đông tan chảy, tàu ngầm Xô-viết tìm cách
xuyên qua hệ thống bảo vệ ghê gớm này.
Tháng 5/1943, chiếc Shch-303
dưới quyền Hạm trưởng Ivan Travkin rời Kronstadt hướng tới Biển Baltic.
Sau 2 ngày tuần tiễu, máy dò âm báo phát hiện có vật cản dưới nước.
“Đó là lưới chống ngầm. Sóng đánh nó lắc lư đấy.”
Travkin nhiều lần thử xuyên qua lưới nhưng đều thất bại.
Máy dò âm cũng phát hiện nhiều tàu tuần tiễu chống ngầm của địch.
Travkin quyết định báo cáo phát hiện của mình và quay về căn cứ.
“Chuẩn bị gửi điện tín về đất liền.”
“Phát hiện lưới chống ngầm trong khu vực này.”
“Cung cấp tọa độ.”
Shch-408 không may bằng.
Nó bị máy bay tuần tiễu địch phát hiện và đánh chìm.
Shch-406 dưới quyền Anh hùng Liên Xô Yevgeni Osipov
cũng không trở về được căn cứ.
Khi Travkin về căn cứ, ông và thủy thủ đoàn được đón mừng như người về từ cõi chết.
Bộ chỉ huy Hạm đội Baltic quyết định cho máy bay ném bom chiếc lưới.
Tàu ngầm tìm cách phóng ngư lôi vào nó.
Nhưng tất cả đều vô tác dụng.
Thêm 2 tàu ngầm, S-9 và S-12,
bị chìm khi đang tìm hiểu chiếc lưới.
Sau đó mọi cố gắng chọc thủng nó đều bị dừng lại.
Lúc này quân Đức đã nhốt kín và cô lập thành công
toàn bộ Hạm đội Baltic Xô-viết.
Tại Biển Đen, Không quân Đức lại là mối nguy hiểm lớn nhất với Hải quân Xô-viết.
Trong những tuần đầu chiến tranh, Hạm đội Hắc Hải
Xô-viết tiến hành đột kích các cảng của Romania
và sau đó là Krym đang bị quân Đức chiếm đóng.
Cuộc tấn công đầu tiên, chỉ 4 ngày sau khi chiến tranh nổ ra,
nhắm vào các kho chứa dầu tại Cảng Constantsa của Romania.
Nhưng sau cuộc pháo kích ngắn, khu trục hạm Maskva trúng thủy lôi và chìm rất nhanh,
khiến đoàn tàu tấn công phải rút lui.
Lính thủy đánh bộ Xô-viết cũng tiến hành các cuộc đột kích quy mô nhỏ
vào các mục tiêu Romania.
Sau khi Krym thất thủ, Hạm đội Hắc Hải nhắm vào lực lượng phe Trục đóng dọc bờ biển.
Tháng 10/1943, 3 khu trục hạm Kharkov, Sposobny và Besposhchadny
rời bờ biển phía Đông để đi pháo kích ban đêm
vào các vị trí Đức ở Yalta và Feodosia.
Sau đó, họ quay về căn cứ.
Đến bình minh, các khu trục hạm bị 8 máy bay ném bom
bổ nhào Stuka tấn công, có tiêm kích đi kèm.
Chiếc Kharkov bị đánh trúng buồng máy và phải để chiếc Sposobny kéo.
Nhưng máy bay Đức vẫn không ngớt không kích.
Đòn tấn công cuối cùng là của 25 chiếc Stuka cùng rất nhiều tiêm kích hộ tống.
Tiêm kích Xô-viết cũng đến nơi, nhưng đó là một trận đánh không tương xứng.
Pháo phòng không và tiêm kích đã hạ được 18 máy bay Đức,
nhưng cả 3 khu trục hạm Xô-viết đều bị chìm.
787 thủy thủ Xô-viết của Hạm đội Hắc Hải thiệt mạng.
Thảm họa này khiến Stavka cấm không có thêm cuộc đột kích nào nữa trên Biển Đen.
Trên thượng tầng yên ả của chiếc S-56, thủy thủ đang lo lắng quan sát bờ biển.
Cuối cùng họ nhìn thấy tín hiệu.
Tàu ngầm này đổ bộ một toán trinh sát ra sau phòng tuyến địch.
Đó là một nhiệm vụ thường thấy với tàu ngầm Xô-viết trong chiến tranh.
S-56, dưới quyền của Shchedrin,
đã đi hơn nửa vòng trái đất từ Vladivostok qua Kênh đào Panama
để vào Bắc Hải.
Chặng đường dài hơn 27.000 km này
là lối duy nhất để tránh những vùng chiến sự ác liệt và biển băng mùa đông.
Tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc cũng có nhiệm vụ tấn công các đoàn vận tải
chở quân nhu cho quân phe Trục ở miền Bắc nước Nga.
Ngày 17/5/1943, gần mũi phía Bắc Na Uy,
S-56 thấy một đoàn vận tải gồm 1 tàu dầu,
4 tàu hàng và 8 tàu hộ tống.
Shchedrin phóng một loạt 4 ngư lôi.
Chỉ bằng một loạt phóng, S-56 đã đánh chìm tàu dầu Eurostadt
chở 1.300 tấn nhiên liệu và đánh hỏng tàu hơi nước Watherland.
Nối tiếp cuộc tấn công này là cuộc rượt đuổi dài 6 giờ
với hơn 60 bom chìm được thả
nhưng không trúng đích.
Trong khi những trận đánh lớn diễn ra tại Stalingrad và Kursk,
tại phía Bắc, mặt trận không mấy biến đổi.
Và trận đánh bảo vệ các đoàn vận tải Biển Bắc
chở các chuyến viện trợ quân sự thiết yếu vẫn tiếp diễn.
Hạm đội Biển Bắc Xô-viết đánh một trận cơ động chiến với tàu ngầm
và không quân Đức tới tận 1944.
Vào năm đó, một chuyển biến lớn
cuối cùng đã cho phép Hạm đội Baltic Xô-viết phá vỡ xiềng xích cầm hãm họ.
Tháng 9/1944, Phần Lan ký Hiệp ước Đình chiến
cho phép tàu Xô-viết vượt qua lưới ngầm và bãi thủy lôi trong Vịnh Phần Lan
và thậm chí được hoạt động trong các cảng Phần Lan.
Tháng 1/1945, Hồng quân tấn công vào Đông Phổ.
Quân Đức bắt đầu một chiến dịch lớn sơ tán quân đội cùng trang thiết bị theo đường biển.
Các tàu này cũng chở theo hàng ngàn dân lánh nạn.
Trong số đó có chiếc Wilhelm Gustloff,
một tàu viễn dương bị Hải quân Đức trưng dụng.
Ngày 30/1, nó khởi hành từ Gdynia,
giữa tuyết rơi nặng hạt và nhiệt độ -10 độ C.
Trên boong là 980 học viên tàu ngầm
cùng 500 quân nhân khác.
Theo một số ước tính, có thêm gần 9.000 dân lánh nạn,
trong đó gần phân nửa là trẻ em.
Sợ va chạm phải các đoàn vận tải khác,
thuyền trưởng chiếc Wilhelm Gustloff cho bật chiếc đèn hoa tiêu.
Chính chiếc đèn này gây chú ý của Hạm trưởng
Aleksandr Marinesko của tàu ngầm S-13
lúc hơn 9 giờ tối.
Marinesko bám theo con mồi trong hơn 1 giờ.
Khi đã vào vị trí khai hỏa, ông cho phóng 4 ngư lôi.
3 quả trúng chiếc tàu khách, gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Hơn 9.000 người thiệt mạng trên chiếc Wilhelm Gustloff.
Nhưng Hải quân Xô-viết biện hộ cho quyền được tấn công
một tàu có hộ tống, chở theo quân nhân.
Hai tuần sau, cũng tàu ngầm đó đánh chìm tàu khách von Steuben
khiến 4.000 người thiệt mạng.
Lần này, phần lớn họ là thương binh Đức.
Trong những tháng đầu của 1945, Hồng quân tiến quân nhanh.
Xuyên qua Ba Lan để đe dọa Berlin ở phía Bắc,
và xuyên qua Hungary để tới Vienna ở phía Nam.
Nhưng vẫn còn những túi vây quân Đức kháng cự lại
dọc bờ Baltic, ở Pomerania và Latvia.
Tiêu diệt mối liên lạc đường biển với các cụm quân ấy
là nhiệm vụ cuối cùng của tàu ngầm Hạm đội Baltic trong chiến tranh.
Chiếc đèn pha quét dọc lối vào Vịnh Danzig.
Đối với hạm trưởng chiếc tàu ngầm Xô-viết L-3, đó là một cảnh gây nản lòng.
Hạm trưởng Konovalov được lệnh đột nhập vào trong vịnh,
nhưng ông xem đó là một nhiệm vụ tự sát.
L-3 đứng chờ ở cửa vào vịnh.
Vào đầu năm 1945, những trận đánh trên không và trên biển diễn ra căng thẳng,
đặc biệt tại Bán đảo Hel,
khi quân Đức cố gắng tuyệt vọng sơ tán tàn quân
của họ và hàng ngàn dân tỵ nạn đang hoảng loạn.
Nhưng họ phải vượt qua bức màn sắt của tàu ngầm Xô-viết.
Ngày 17/4/1945, L-3 thấy một đoàn vận tải đang rời vịnh,
đi từ Hel hướng tới miền Tây nước Đức.
Sau khi trời tối, Konovalov phóng ra 3 ngư lôi.
Nạn nhân của ông là tàu vận tải Goya chở hơn 6.000 hành khách.
Chỉ còn 183 người sống sót.
Tháng 7/1945, Konovalov được trao danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Thủy thủ đoàn của ông cũng được khen thưởng.
Ngay từ những ngày đầu của chiến tranh, tàu ngầm L-3 đã phải hứng chịu đòn đánh của Luftwaffe.
Nó chỉ thoát được nhờ quân Đức không xem tàu ngầm Xô-viết là ưu tiên hàng đầu.
Nhưng rồi họ đã chứng tỏ mình là một đối thủ thực sự đáng sợ.
Ngày nay, tháp chỉ huy cong tròn của L-3 được trưng bày
trước Bảo tàng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại ở Maskva.
Nhân dân Xô-viết ăn mừng chiến thắng ngày 9/5/1945.
Và vào 22/7, các tàu Xô-viết kéo cờ đánh dấu
Ngày Hải quân đầu tiên kể từ khi chiến tranh kết thúc.
Ngày ấy cũng được đánh dấu bằng cuộc duyệt binh và
nhân dịp này, một diễn văn của Iosif Stalin gửi đến tất cả các thủy thủ Xô-viết.
Diễn văn tuyên bố Hải quân đã hoàn thành vượt nghĩa vụ đối với Tổ quốc Xô-viết.
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.