Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG
Cuộc xâm lược của Hitler hoàn toàn gây bất ngờ cho Không quân Liên Xô VVS.
Không quân Đức Luftwaffe dày dặn kinh nghiệm và trang bị tốt hơn hẳn.
Đối với các phi công Xô-viết, thời kỳ đầu chiến tranh là cuộc chiến cốt để giữ lấy mạng.
Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.
Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.
“Tớ bắn trúng rồi, Hans ơi!”
“Cứ từ từ, chạy đâu cho thoát!”
Ngày đầu tiên của chiến tranh.
CUỘC CHIẾN TRÊN KHÔNG.
Hai chiếc Messerschmitt Bf-109 đang tấn công một chiếc tiêm kích “Hải Âu” Xô-viết.
Đột nhiên một chiếc “Hải Âu” khác xuất hiện đằng sau hai chiếc tiêm kích Đức.
“Một thằng Nga khác hướng 6 giờ.”
“Ngoặt lại!”
Máy bay Đức bỏ dở chiếc máy bay bị thương để đuổi theo chiếc mới đến.
Chúng bắn thủng nhiều lỗ trên thân chiếc máy bay Xô-viết
nhưng không tài nào hạ được nó.
Chiếc “Hải Âu” này do Trung úy Rechkalov lái
và đây là lần thử lửa đầu tiên của ông.
Năm ngày sau, Grigory Rechkalov bắn hạ chiếc máy bay Đức đầu tiên của mình.
Ông tiếp tục và hạ được tổng cộng 61 chiếc (cả cá nhân lẫn tập thể-danngoc),
trở thành phi công Át Xô-viết có thành tích đứng thứ 3 trong chiến tranh.
Ông được 2 lần trao tặng Anh hùng Liên Xô, phần thưởng cao quý nhất của Liên Xô.
Một hội đồng quân y đã tuyên bố Rechkalov không đủ khả năng chiến đấu vì bị mù màu.
Nhưng khi ông vừa báo điều đó cho trung đoàn mình thì chiến tranh nổ ra,
và ông lập tức được đưa vào chiến đấu.
“Thưa đồng chí Đại úy! Trung sĩ Rechkalov báo cáo có mặt!”
“Hội đồng quân y đánh trượt nhưng tôi muốn được...”
“Có thấy cái Hải Âu số 13 kia không?” “Thấy.”
“Mau chuẩn bị cất cánh. Cậu chở 1 kiện hàng tới Beltsy.”
“Vâng.”
Năm 1941, loại tiêm kích chủ lực của Liên Xô là I-153 “Chaika” (Hải Âu)
và I-16 “Ishak” (Con Lừa).
Chúng được thiết kế bởi Phòng thiết kế Polikarpov, do Nikolai Nikolaievich Polikarpov đứng đầu.
“Hải Âu” là kiểu máy bay giỏi lượn vòng,
nhưng tốc độ chậm đến khốn khổ so với Messerschmitt Bf-109 của Đức.
Phi công Xô-viết chạm trán lần đầu với “109” trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha,
và lập tức thấy rõ đây là mối đe dọa nghiêm trọng.
Messerschmitt Bf-109 được thiết kế bởi Willy Messerschmitt
thuộc Bayerische Flugzeugwerke BFW (Xưởng máy bay Bayer).
Nó trở thành loại tiêm kích được sản xuất nhiều nhất cuộc chiến.
Tháng 6/1941, phiên bản F mới nhất có tốc độ cực đại 615 km/giờ,
so với 420 km/giờ của “Hải Âu”.
Nó gắn 2 súng máy và 1 pháo 20 mm,
nghĩa là Messers 109 cũng có hỏa lực vượt trội.
Khả năng cơ động cao của “Hải Âu” giúp phi công Xô-viết vẫn thoát thân được nhưng không bao giờ có thể chủ động không chiến.
Trong ngày đầu tiên của cuộc chiến, có hơn 300 máy bay Xô-viết bị bắn hạ,
nhưng có tới 1.400 bị phá hủy trên mặt đất.
Thiệt hại lớn nhất là tại Belorussia,
nơi Sư đoàn Không quân Hỗn hợp số 9 của Tướng Chernykh, trang bị loại mới MIGG-3,
bị thiệt hại 347 máy bay trên tổng số 409 chiếc.
Sergei Aleksandrovich Chernykh là một Anh hùng Liên Xô,
cựu chiến binh Nội chiến Tây Ban Nha và là phi công Xô-viết đầu tiên bắn rơi 1 Messers 109.
Nhưng giờ đây, ông phải giơ đầu chịu báng cho thất bại của Không quân VVS, bị bắt và xử bắn.
Phương diện quân Tây bị mất 738 máy bay,
528 trong số đó là trên mặt đất.
Khi Tư lệnh Không quân tại Belorussia, Tướng Kopets,
nhận ra quy mô của thảm họa, ông đã dùng súng lục tự sát.
Những con người này là các phi công trẻ tài năng được thăng quá nhanh lên làm chỉ huy cao cấp
để điền đầy khoảng trống do cuộc thanh trừng các sĩ quan không quân cao cấp của Stalin.
Nhưng khi chiến tranh nổ ra, họ lúng túng không biết xử trí ra sao.
Dù bị thiệt hại nặng nề trong ngày đầu tiên,
tàn binh của Không quân Xô-viết VVS bắt đầu chống trả lại.
“Phi đội, tôi thấy một đoàn xe địch, tấn công!”
Ngày 25/6, 27 máy bay ném bom Tupolev SB
đã tấn công Tập đoàn quân Xe tăng 2 của Đức
đang hành quân tới vượt sông Shchara ở Belorussia.
Các máy bay ném bom đã phá hủy xe địch và chỗ vượt sông.
Trên đường về, các máy bay SB bị tiêm kích Đức tấn công.
10 chiếc bị bắn hạ.
Các trung đoàn cường kích mặt đất và tiêm kích Xô-viết trực thuộc Bộ chỉ huy tập đoàn quân,
nhưng máy bay ném bom lại thuộc Bộ chỉ huy phương diện quân hoặc cụm tập đoàn quân.
Cơ chế này tỏ ra gần như không thể phối hợp hoạt động giữa các bên.
Máy bay ném bom lên đường không có tiêm kích bảo vệ,
hay tiêm kích được lệnh phải tấn công mục tiêu dưới đất.
Chiến thuật kém của Liên Xô cũng lộ rõ.
Phi công ném bom được huấn luyện bay theo đội hình rời rạc,
có nghĩa là súng máy của họ không thể hỗ trợ lẫn nhau.
Chiến thuật và cách tổ chức của Liên Xô cần phải được mau chóng cải tổ.
Tuy nhiên, máy bay ném bom Xô-viết vẫn tiếp tục tấn công Lục quân Đức,
cùng với các mục tiêu chiến lược bao gồm Königsberg ở Đông Phổ,
Warszawa, Cảng Constantsa và vùng lọc dầu Ploiesti của Romania.
Một trong những phi công bảo vệ vùng giếng dầu thiết yếu của Romania là Thượng úy Günther Rall.
Ngày 26/6, đơn vị của ông đánh chặn các máy bay ném bom Xô-viết
quay về sau cuộc không tạc Ploiesti.
Rall bắn rơi 3 máy bay ném bom,
các đồng đội của ông ta hạ thêm 6 chiếc khác.
Günther Rall đăng lính bộ binh năm 1936.
Hai năm sau ông chuyển sang Không quân Luftwaffe và học lái tiêm kích.
Ông ta tham chiến lần đầu tại Pháp năm 1940 và bắn hạ 2 chiếc.
Kết thúc chiến tranh, ông ta đứng thứ 3 trong số các phi công
tiêm kích Đức thành công nhất với 275 máy bay địch.
Không quân Đức không chỉ có ưu thế về chất lượng máy bay,
họ còn được huấn luyện tốt tuyệt vời.
Họ tuân theo phương châm của phi công Át huyền thoại của Đức trong Thế Chiến thứ I,
Nam tước Đỏ Manfred von Richthofen:
“Hãy tìm ra địch và bắn hạ. Mọi thứ khác đều vô nghĩa.”
Phi công tiêm kích Đức chiến đấu gần như theo các trận chiến riêng rẽ,
giống một cuộc thi điền kinh hơn,
trong đó chỉ có thành tích cá nhân là quan trọng hơn cả.
Rút ra từ kinh nghiệm của mình trong Nội chiến Tây Ban Nha,
các phi công tiêm kích Luftwaffe tự sáng tạo ra chiến thuật cho riêng mình.
Họ bay theo đội hình linh hoạt gồm 2 cặp, gọi là “Bốn ngón”,
cho phép họ khai thác sự vượt trội về tốc độ của mình.
Không quân các nước khác như Anh và Liên Xô bay theo đội hình cứng nhắc hình chữ V,
trong đó phần lớn thời gian phi công phải tập trung để giữ được đội hình.
Trong trường hợp của Không quân Xô-viết VVS, một đội hình chặt chẽ là cần thiết
vì hầu hết máy bay đều chưa có máy điện đàm.
Các chỉ huy biên đội phải liên lạc bằng cách lắc cánh hay ra dấu bằng tay.
Điều này khiến phi công không được tự do để cơ động.
Vài tuần trước khi Đức xâm lược,
một loại máy bay mới tinh bắt đầu được chuyển đến các trung đoàn cường kích mặt đất Xô-viết.
Đó là Il-2, sẽ là loại máy bay Xô-viết nổi tiếng nhất cuộc chiến.
Il-2 Sturmovik được thiết kế bởi Sergei Ilyushin
và được đưa vào phục vụ từ tháng 5/1941.
Thiết kế của ông sớm được đặt biệt danh “Xe tăng bay”.
Il-2 có gắn pháo, súng máy, đeo bom và tên lửa,
được bảo vệ dưới bụng bằng thép tấm.
Có hơn 36.000 được xuất xưởng,
khiến đây là loại máy bay quân sự được chế tạo nhiều nhất trong lịch sử.
Đơn vị đầu tiên được nhận Il-2 là Trung đoàn Sturmovik 4,
nhưng chiến tranh nổ ra trước khi các phi công có cơ hội được huấn luyện với nó.
Họ tập cất cánh và hạ cánh
nhưng chưa được bay thành đội hình hay thậm chí sử dụng vũ khí trên máy bay.
Một số phi công còn chưa từng nhìn thấy tên lửa RS trước đây,
vậy mà giờ người ta muốn họ sử dụng chúng đi chiến đấu.
Ngày 27/6, các phi công Đại úy Spitsin, Chính trị viên Filippov và Đại úy Kholobaev
cất cánh thực hiện phi vụ đầu tiên của mình.
“Nhắm bắn tên lửa thế nào nhỉ?”
“Lái kính ngắm vào mục tiêu... rồi ấn nút thôi!”
Họ tấn công đoàn xe Đức ở tầm bay thấp,
chỉ dùng được súng máy
do khẩu pháo 20 mm trục trặc kỹ thuật.
Cả ba phi công đều về được sân bay.
Máy bay của Kholobaev bị thủng lỗ chỗ.
Thân máy bay dính đầy dầu đen.
Chiếc máy bay coi như vứt đi
nhưng phi công vẫn lành lặn.
Một tuần sau trung đoàn nhận được giấy tuyên dương của tư lệnh Phương diện quân
vì đã phá hủy được 9 điểm vượt sông Berezina.
Nhưng thiệt nặng cũng rất nặng.
Đến giữa tháng 7, trong tổng số 56 máy bay của trung đoàn
chỉ 10 chiếc còn hoạt động.
Vào tháng 8, trung đoàn bàn giao 3 máy bay còn lại cho đơn vị bên cạnh
rồi trở về phía Đông để tái tổ chức.
Trong mùa hè đầu tiên của cuộc chiến,
trung bình một chiếc Ilyushin Il-2 bị gạch tên chỉ sau 8-9 phi vụ.
Trong một số trung đoàn tuổi thọ này chỉ là 3-4 phi vụ.
Nhưng chiến thuật và việc huấn luyện tốt hơn đã dần dần cải thiện được tỷ lệ sống sót.
Đến 1945, trung bình đã tăng tới 90 phi vụ.
Mùa thu năm đó, Grigory Rechkalov bị thương trong một phi vụ chiến đấu.
Dù bị thương nặng ở chân, ông vẫn hạ cánh được về đến căn cứ.
Tính đến khi ấy, ông đã hạ được 3 máy bay Đức.
Đến cuối năm 1941, Không quân Xô-viết VVS đã mất hơn 20.000 máy bay.
Luftwaffe chỉ mất 3.800.
Nhưng dù thành công như vậy, Luftwaffe vẫn tỏ ra
không thể đánh phá hiệu quả vào tuyến vận chuyển và hệ thống hạ tầng của Liên Xô.
Luftwaffe được thiết kế ưu tiên để hỗ trợ các chiến dịch mặt đất,
nó không có máy bay để thực hiện việc ném bom chiến lược.
Luftwaffe không thể ngăn cản cuộc sơ tán nền công nghiệp Xô-viết về vùng Ural,
hay quyết liệt ngăn cản viện quân Xô-viết di chuyển từ nội địa nước Nga.
Các cuộc không kích của Đức vào Maskva đã nhấn mạnh vào yếu điểm ấy.
Tiêm kích Xô-viết, được hỗ trợ bởi hệ thống phòng không dày đặc,
đã ngăn cho thủ đô không bị thiệt hại nào đáng kể.
Đến cuộc phản công mùa đông, Không quân Xô-viết đã chiếm tỷ lệ gần 3:1 so với Luftwaffe
và chẳng mấy chốc họ bắt đầu nhận được một số loại máy bay kiểu mới vô cùng cần thiết.
Trên một sân bay tại Nga, một chiếc máy bay đang lượn
chợt rung lên rồi chúi đầu xoay tròn.
Phía dưới đất, người thiết kế ra nó, Semyon Lavochkin, đang lo sợ điều tệ nhất.
Ngày hôm trước, ông đã nói với phi công rằng
“Đừng có thử cánh lái đuôi, cậu sẽ phá hỏng mẫu thử và mất mạng như chơi.”
Nhưng phi công đã mau chóng cải bằng về đường bay ngang.
“Máy bay dễ điều khiển, phi công lái có hơi lỗi cũng không sao.”
“Các phi công trẻ sẽ lái nó ngon lành.”
Hai tuần sau, Hội đồng Quốc phòng GKO chấp thuận đưa vào sản xuất tiêm kích LaGG-3
nhưng gắn động cơ kiểu mới M-82.
Nó sẽ được đặt tên là La-5.
Tiền bối của nó, LaGG-3,
được thiết kế năm 1940 bởi Lavochkin, Gorbunov và Gudkov.
Do Liên Xô bị thiếu nhôm,
máy bay này có khung gỗ với các bộ phận quan trọng làm từ gỗ dán,
được sấy khô và nén dưới nhiệt độ cao.
Cách này khiến gỗ rất chắc và chịu được lửa
nhưng vẫn nặng hơn so với nhôm.
Trọng lượng nặng và động cơ yếu khiến LaGG-3 chậm và khó cơ động.
Mùa thu 1941, người ta quyết định ngưng sản xuất tiêm kích LaGG
để chuyển sang tập trung làm Yak-7.
Cuối năm 1941, Yak-7B được xem là loại tiêm kích tốt nhất của Liên Xô.
Nó trang bị 1 pháo, 2 súng máy
và có tốc độ tối đa 599 km/giờ.
Phòng thiết kế Lavochkin có cơ bị đóng cửa.
Cứu cánh của nó là loại động cơ mới mạnh hơn M-82 làm mát bằng không khí.
Gắn trên khung thân LaGG-3, nó cho ra đời chiếc La-5
và Xưởng thiết kế Lavoshkin được quay trở lại hoạt động.
Ngày 21/3/1942,
vài ngày trước khi Phòng thiết kế được sơ tán tới Kavkaz,
phi công thử nghiệm Vasily Mashenko lái mẫu thử bay lần đầu.
Trong năm đầu của cuộc chiến, Liên Xô phải chịu những tàn phá to lớn quét qua trên khắp lãnh thổ
và những mất mát khủng khiếp.
Trong số 22.600 xe tăng có trong tay trước chiến tranh, chỉ còn lại khoảng 2.000.
Từ 20.000 máy bay, nay chỉ còn lại 2.000.
Và từ 110.000 pháo và cối chỉ còn lại 2.800 khẩu.
Những thiệt hại ấy phải được mau chóng khôi phục.
Nhưng đồng thời, các nhà máy Xô-viết cũng phải được sơ tán về phía Đông đến nơi an toàn.
Dân ủy Liên Xô phụ trách công nghiệp hàng không đã sơ tán được 118 nhà máy
cùng 85 % trang thiết bị.
9 nhà máy xe tăng chính cũng đã sơ tán.
Đến cuối 1941 đã có hơn 10 triệu người
và 2.500 nhà máy xí nghiệp được tái bố trí.
Công việc này huy động hơn 1,5 triệu toa tàu hỏa.
Khi đến nơi, hầu hết các nhà máy đều lập tức khôi phục lại sản xuất.
Trong khi đó, Không quân Xô-viết VVS đưa vào thực hành những bài học đau đớn năm 1941.
Tháng 3/1942, Không quân Xô-viết tiếp nhận vị tư lệnh mới, Tướng Novikov.
Ông lập tức đề xuất tập trung các đơn vị của mình thành các tập đoàn quân,
để dễ điều hành và phối hợp hơn trong các chiến dịch không quân.
Các phi công tiêm kích Xô-viết học được nhiều chiến thuật mới,
một số rút ra từ kinh nghiệm chiến đấu, số khác vay mượn của Luftwaffe.
Không quân từ bỏ các Cụm không quân hỗn hợp,
thay vào đó máy bay tiêm kích, cường kích Sturmovik
và ném bom được gom thành các sư đoàn chuyên biệt.
Những máy bay lỗi thời như “Hải Âu” dần dần được thay thế
bởi các loại Yak, Lavochkin và Ilyushin mới.
Máy bay La-5 trình diễn lần đầu tiên tháng 8/1942 trên bầu trời Stalingrad.
Günther Rall nêu đánh giá của mình về loại máy bay mới:
“Bọn Nga học tập rất nhanh ..."
"... Loại La-5, thay thế cho loại LaGG-3 không hiệu quả, quả là tuyệt vời.”
Những phi công Đức kỳ cựu sớm hiểu ra là phải kiêng dè La-5.
Nó thể hiện đặc biệt ấn tượng ở độ cao thấp,
khi đó nó đánh ngoặt tốt hơn Messerschmitt Bf-109 và bốc lên cao tốt hơn Focke-Wulf Fw190.
Tuy nhiên, Liên Xô vẫn phải chịu thiệt hại nặng nề về phi công.
Tình hình này được tả lại trong một báo cáo của Trung đoàn Tiêm kích số 49:
“La-5 là loại tiêm kích Xô-viết tốt nhất ..."
"... Thiệt hại của Trung đoàn được giải thích do 45 % quân số là phi công trẻ ..."
"... Trong số thương vong có 3 trung sĩ chỉ có 15-17 giờ bay ..."
"... trên La-5 và 2 trung úy có số giờ bay tương tự ..."
"... Chỉ 1/5 là phi công có kinh nghiệm.”
Đào tạo phi công vẫn là một trong những yếu điểm lớn nhất của Không quân Xô-viết
cho tới tận cuối chiến tranh.
Các trường dạy lái Xô-viết luôn thiếu hướng dẫn viên và nhiên liệu.
Phi công tốt nghiệp chỉ sau 90 ngày với những kiến thức cơ bản.
Họ tập trung vào cất cánh và hạ cánh,
việc nhào lộn bị nghiêm cấm do đã dẫn tới quá nhiều tai nạn.
Hậu quả là phi công được phân về đơn vị
thường có kinh nghiệm chỉ khoảng 8 giờ bay.
Thường thường, họ chưa quen với loại máy bay đơn vị được trang bị.
Họ cũng không được dạy bay trong thời tiết xấu.
Các trường dạy bay cũng thực sự không có huấn luyện gì về không chiến.
Chủ yếu là bắn vào mục tiêu,
nhưng rất ít người biết về độ lệch xạ kích hay cách sử dụng kính ngắm.
Những người như vậy được đưa đi đánh nhau với phi công Đức
có kinh nghiệm hàng trăm giờ bay.
Nhưng bù vào việc thiếu kinh nghiệm, họ lại có tinh thần rất cao.
Sergei Gorolov nêu một ví dụ tiêu biểu của phi công tiêm kích Xô-viết:
“Chúng tôi khao khát được chiến đấu và sẵn sàng hy sinh ..."
"... Thậm chí còn nói vĩnh biệt trước khi thực hiện phi vụ.”
Cuối 1942, trung đoàn của Grigory Rechkalov được rút khỏi mặt trận
để tái huấn luyện loại máy bay mới,
loại Airacobra của Mỹ, được gửi tới Liên Xô
trong thành phần chương trình viện trợ quân sự Lend-Lease của Đồng Minh.
Trong các kiểu máy bay Đồng Minh được cung cấp thông qua
Lend-Lease, đây là kiểu được phi công ưa thích nhất.
Bell P-39 Airacobra có một nét thiết kế khác thường -
- động cơ được đặt phía sau phi công.
Có tới phân nửa tổng số 10.000 chiếc Airacobra do Bell sản xuất được gửi cho Liên Xô
theo điều khoản của Lend-Lease.
Máy bay gắn 1 khẩu pháo 37 mm và 2 súng máy cỡ lớn.
Ngoài Rechkalov, các phi công Airacobra khác còn có Nikolai Gulayev,
thành tích đứng thứ tư trong số các phi công Át Xô-viết với 57 máy bay địch,
và Aleksandr Pokryshkin thành tích đứng thứ hai với 59 máy bay địch.
Rechkalov, người thích một mình đi săn địch trên chiếc Airacobra của mình,
đến 1943 đã hạ được 42 chiếc.
Ông kết thúc chiến tranh với 61 chiến thắng được xác nhận.
“Cánh quạt sẵn sàng!” “Vâng, cánh quạt!”
Đến khi chiến tranh kết thúc, Rechkalov đã 2 lần được trao danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Tháng 4/1943, Phương diện quân Bắc Kavkaz của Hồng quân
bắt đầu cuộc tấn công vào đầu cầu Kuban bên bờ Biển Đen.
Mục tiêu của họ là đột phá hệ thống phòng ngự của Đức gọi tên là Phòng tuyến Xanh
và giải phóng Taman.
Sau sáu ngày giao tranh dữ dội,
Tập đoàn quân 56 chỉ chiếm được thành công 1 cứ điểm của Đức -
- làng Stanitsa Krymskaya.
Việc tiến xa hơn là không thực hiện được trước những cuộc không kích quy mô lớn của Không quân Đức,
xuất phát từ các căn cứ Luftwaffe ở Bán đảo Kerch.
Cuộc tấn công của Liên Xô phải hoãn lại vào ngày 15/5.
Hè năm ấy, một trận đấu ác liệt giành quyền kiểm soát trên không
diễn ra trên bầu trời Kuban,
giữa một bên là Tập đoàn quân Không quân 4 của Tướng Vershinin,
bên kia là Không đoàn Luftflotte 4 của Thống chế von Richthofen.
Nó trở thành khởi đầu cho sự chấm dứt ưu thế của Luftwaffe trên bầu trởi Mặt trận phía Đông.
“Anh này bị thương rồi!” “Đưa tới bác sĩ, mau!”
Phi công Át đầu bảng của Liên Xô là Ivan Nikitovich Kozhedub.
Kozhedub đã trải qua 2 năm làm huấn luyện viên bay
và chỉ gia nhập 1 trung đoàn tiêm kích tiền tuyến vào mùa xuân 1943, tại đây ông bay La-5.
Tính đến hết chiến tranh, ông đã bắn rơi 62 máy bay địch,
trở thành phi công Át phe Đồng Minh có thành tích tốt nhất cuộc chiến.
Ông cũng 3 lần được tặng Anh hùng Liên Xô.
Trong 40 phi vụ đầu, ông không bắn rơi được máy bay nào.
Thay vào đó ông thường trở về với chiếc máy bay bị hư hại nặng.
“Kính buồng lái dính đầy dầu! Tôi không thấy gì hết!”
“Cáng đi, cáng đi! Nhanh lên!”
“Ra giúp tôi một tay.”
“Ta cần thay bộ tản nhiệt dầu. Máy bay thủng lỗ chỗ cả!”
Nhưng rồi cơ hội cũng tới trong Trận Kursk.
Vào mùa hè 1943 ở gần Kursk,
Lục quân Wehrmacht lập kế hoạch tấn công thành
2 gọng kìm khổng lồ nhằm bao vây và tiêu diệt những lực lượng cơ bản của Hồng quân.
Trước đây, Hồng quân chưa bao giờ trụ nổi
những cuộc đột kích kết hợp xe tăng, pháo binh và không quân của Đức.
Trong khi đó, Kholobaev đang hướng dẫn các phi công trẻ
của Trung đoàn Cường kích Cận vệ Sturmovik 7.
“Năm 1941 chúng ta đã phải học cách bay và thả bom ngay tại chiến trường.”
“Ít nhất các anh đã được thực hành đánh mục tiêu và có giờ bay kha khá trên Il-2.”
Trên hết, Kholobaev khuyến khích tính xông xáo của các học trò.
Ông hối thúc họ xông lên tấn công không do dự.
Đến 1943, các trung đoàn Sturmovik Xô-viết đã xây dựng
được chiến thuật dựa trên những kinh nghiệm chiến đấu vững chắc.
Họ bắt đầu chúi từ độ cao 1.000 m xuống chỉ hơn 100 m,
sau đó họ bắt đầu quay thành 1 vòng tròn.
Cách này cho phép họ tự do cơ động, chọn lựa mục tiêu
và tùy ý sử dụng pháo, súng máy, bom và tên lửa.
Khi công kích, các máy bay ở sau
sẽ bảo vệ cho họ khỏi đám tiêm kích Đức.
Ngay trước Trận Kursk, các đơn vị Il-2 được nhận thứ vũ khí chống tăng mới,
bom con PTAB.
Grigory Cherkashin là 1 trong số các phi công đã dùng thứ vũ khí mới này:
“PTAB là vũ khí chống tăng hiệu quả nhất của ta ..."
"... Chúng rất đáng sợ! Cứ tưởng tượng 6 chiếc Sturmovik áp tới một đoàn thiết giáp ..."
"... Chiếc đầu tiên thả xuống 4 thùng bom, ..."
"... rồi chiếc thứ 2, thứ 3.”
Quân Đức mở màn Trận Kursk ngày 5/7/1943.
Sang ngày hôm sau, Kozhedub bắn hạ chiếc máy bay Đức đầu tiên của mình.
Trong 2 ngày kế tiếp, ông bắn rơi thêm 3 chiếc nữa.
Trong một trận, Trung úy Gorovets được ghi nhận đã bắn hạ 9 chiếc Stuka,
chiếc cuối cùng là bằng cách dùng cánh quạt chặt đứt đuôi,
trước khi chiếc La-5 bị thương nặng của ông bị bắn rơi.
Hy sinh mạng sống của mình, Aleksandr Konstantinovich Gorovets đã lập kỷ lục Liên Xô
về bắn hạ 9 máy bay trong 1 phi vụ duy nhất.
Con số chính xác về số máy bay bị bắn hạ của các phi công Át
Thế Chiến thứ II vẫn là chủ đề được tranh cãi sôi nổi.
Bản chất các trận không chiến khiến rất khó biết chắc chiếc máy bay
đúng là bị bắn hạ hay chỉ bị thương.
Cũng như các nước khác, Không quân Xô-viết VVS
đòi hỏi thành tích phải được xác nhận bởi các nhân chứng trên không hay dưới mặt đất,
hay được xác định bằng máy quay gắn trên máy bay.
Nhưng phi công tất cả các bên đều có thiên hướng phóng đại số máy bay mình hạ được.
Lấy ví dụ trong Trận Không chiến trên bầu trời nước Anh, phi công tiêm kích đã tuyên bố
khoảng gấp đôi số máy bay mình thực sự hạ được.
Tại Kursk, các trận không chiến diễn ra cũng ác liệt không kém các trận đánh dưới mặt đất.
Có thể thấy rõ một điều là, Luftwaffe không còn ưu thế rõ rệt như trước nữa.
Những phi công Át giàu kinh nghiệm của Đức bay các máy bay hiện đại có tính năng cao
vẫn tiếp tục gây nhiều thiệt hại cho Không quân Xô-viết.
Nhưng Sergei Gorolov là minh chứng cho bước ngoặt học tập của phi công Xô-viết:
“Tại Kursk, tôi học được cách cơ động và xạ kích chính xác ..."
"... Giờ đây chúng tôi đã có máy điện đàm và điều hành mặt đất đáng tin cậy ..."
"... Trong khi chỉ hạ được 1 chiếc năm 1941, ...
"... tôi bắn được 5 chiếc trong năm 1942 ..."
"... và mùa hè năm 1943 là 20.”
Chiếc tiêm kích Lavochkin đóng vai trò quan trọng trong thành công của ông.
Năm 1943 nó được đổi sang loại động cơ mới có bơm nhiên liệu trực tiếp khiến nó
ngang ngửa thấy rõ với phiên bản Messers 109 mới nhất.
Ngày 1/8/1943, Gorolov và 9 phi công La-5 khác đang hộ tống đoàn Sturmovik
tới mục tiêu thì chạm trán 35 tiêm kích địch.
“Có một chiếc sau đuôi tôi! Ai đó đuổi nó đi!”
“Số 17 - có 1 Messers phía dưới! Quay lại ngay!"
Trong trận không chiến đó, 8 Messerschmitt bị bắn hạ,
trong đó 2 chiếc là do Gorolov.
“Tôi trúng đạn! Che cho tôi! Địch sau đuôi!”
“Cháy đi, thằng Fritz! Mày không thoát được đâu!”
“Tôi cháy rồi! Tôi đang rơi.”
Khi tấn công một đội hình Sturmovik Xô-viết có tiêm kích hộ tống,
tiêm kích Đức sẽ bay cao trên đầu họ 500 m rồi lượn thành vòng tròn,
chờ tới lúc thích hợp để lao xuống tấn công.
Phương án của họ rất đơn giản, lao xuống tấn công với tốc độ tối đa,
bắn hạ 1 Sturmovik rồi bay ra xa tới nơi an toàn.
Những cuộc chúi xuống tấn công nhanh ấy đạt tốc độ 640 km/giờ.
Mệnh lệnh của tiêm kích hộ tống là đi cùng những chiếc Sturmovik
chậm và kém cơ động và bảo vệ họ khỏi các cuộc tấn công ấy.
Họ thường quay đầu về phía máy bay tiêm kích Đức và nổ súng phòng vệ.
Dù có trượt, đạn cũng bẻ gãy đợt tấn công của địch.
Tiêm kích hộ tống sau đó sẽ quay lại đội hình.
Đó quả là một trải nghiệm khó chịu của tiêm kích Xô-viết:
bị cấm truy kích và tiêu diệt tiêm kích địch.
Các phi công Át Đức đã ghi rất nhiều chiến công bằng các cuộc tấn công chúi nhanh ấy.
Nhưng như vậy vẫn không đủ để ngăn chặn cường kích Sturmovik hoàn thành nhiệm vụ của mình:
ném bom và bắn phá quân Đức dưới đất không khoan nhượng.
Ngày 4/2/1944,
Thiếu úy Kozhedub được trao ngôi sao vàng Anh hùng Liên Xô
vì diệt được 20 máy bay địch trong 146 phi vụ.
Đồng đội ông, Sergei Komarenko, đã tả lại về người phi công đầy thành tích này:
“Rất nhiều phi công ghen tỵ với anh ấy, cho rằng anh ấy phải hết sức may mắn ..."
"... mới hạ được nhiều địch mà không bị trúng đạn. Tôi cũng nghĩ chuyện này rất hiếm thấy, ..."
"... nhưng sau khi bay cùng anh vài lần, tôi nhận ra là sau những phản xạ nhanh như chớp ấy ..."
"... là nhận thức tuyệt vời về tình huống."
"... Kozhedub có sự hiểu biết đầy bản năng về không chiến ..."
"... Anh luôn có mặt đúng nơi đúng lúc ..."
"... Sau đó mọi chuyện cần làm chỉ còn là ấn cò súng.”
Năm 1943,
không quân Anh Mỹ tung ra
một chiến dịch ném bom hỗn hợp vào nước Đức.
Bản Mệnh lệnh Casablanca công bố kế hoạch:
“Tiến trình này nhằm tiêu diệt và phá hủy hệ thống công nghiệp và kinh tế quân sự Đức, ..."
"... làm hao mòn tinh thần của nhân dân Đức ..."
"... đến mức độ làm kiệt quệ khả năng chống cự bằng vũ lực.”
Nước Đức bị ném bom suốt ngày đêm,
quân Mỹ ném bom ban ngày, quân Anh ném ban đêm.
Tại Mặt trận phía Đông phi công Đức còn có thể tự do săn địch, nhưng để chống lại máy bay
ném bom Đồng Minh cùng tiêm kích hộ tống,
họ không còn khả năng áp đặt giao chiến theo kiểu của mình nữa.
Trên hai mặt trận, Luftwaffe từ từ bị phép phải quỵ gối.
“Báo động! Báo động!”
Không lâu trước bình minh ngày 23/6/1944,
còi báo động vang lên tại Trung đoàn Sturmovik Cận vệ 7.
Tất cả quân số được tập hợp trên sân bay.
Trung đoàn đã được bổ sung nhân sự trọn vẹn 3 lần.
Những người từng bắt đầu chiến tranh tại Belorussia đã ra đi từ lâu.
Trung đoàn trưởng Kholobaev đã được thăng cấp và chuyển đi.
Mọi người đang đứng nghiêm.
Một cuộc duyệt binh được tổ chức để đánh dấu sự bắt đầu Chiến dịch Bagration.
“Lá cờ này đã tắm trong máu các đồng đội của chúng ta.”
“Những người từng chiến đấu trong những ngày đầu chiến tranh.”
“Lúc này các hậu duệ xứng đáng của họ đang đứng đây để duyệt binh.”
Chiến dịch Bagration, mà Trung đoàn Sturmovik tham chiến hàng đầu,
đã kết thúc với việc tiêu diệt toàn bộ Cụm TĐQ A của Đức.
Hồng quân đã phá toang Mặt trận phía Đông.
Một ủy ban được gửi đến để kiểm tra hiệu quả của Sư đoàn Cường kích mặt đất số 230
mà Trung đoàn Sturmovik Cận vệ 7 là thành phần.
Họ kiểm thấy trong vòng 1 ngày sư đoàn đã tiêu diệt hơn 100 xe địch,
6 xe tăng và 20 pháo.
Khi quân Đức rút khỏi Belorussia, ách tắc đặc biệt
diễn ra quanh các điểm vượt sông.
Do Luftwaffe hoàn toàn vắng bóng,
số phận đoàn xe nằm trọn trong tay Không quân Xô-viết.
“Máy bay địch! Tản ra!”
Tháng 4/1945, Không quân Xô-viết VVS yểm trợ
cho cuộc công kích cuối cùng của Hồng quân
vượt sông Oder và tiến đánh Berlin.
Họ vượt trội về số lượng gấp 7 lần so với Luftwaffe,
nhưng Không đoàn Luftflotte 6 của Đức vẫn chống trả quyết liệt để bảo vệ thủ đô.
“Nhiệm vụ ưu tiên của tiêm kích ta là bảo vệ điểm vượt sông Oder.”
“Nếu địch phá hủy được nó, lính ta sẽ thiếu nhiên liệu và đạn dược.”
“Đó là cốt lõi của chiến dịch…”
Ba cặp La-7 cất cánh đi bảo vệ điểm vượt sông.
Ivan Kozhedub bay dẫn đầu.
Phía dưới, họ phát hiện thấy 32 chiếc Focke Wulf Wf-190 bay thành 2 toán.
Kozhedub chúi xuống, chui vào giữa đội hình Đức
và tấn công máy bay dẫn đầu.
Một Focke Wulf nã đạn vào Kozhedub,
nhưng người bay cặp với ông đã bắn hạ máy bay Đức ở tầm gần như trực diện.
Tận dụng tốc độ, các tiêm kích Xô-viết bốc lên và tấn công toán địch thứ 2.
Kozhedub bắn rơi thêm 1 chiếc,
rồi 1 chiếc nữa. Bắt đầu một cuộc không chiến. Các phi công bay xoắn
và quay ngoặt, cố tìm cách đưa địch vào tầm bắn.
Dù có số lượng đông hơn,
đám Focke Wulf phải quay đầu bỏ chạy về phía Tây,
bị đám Lavochkin đuổi theo sau.
Quay về căn cứ, mọi người kiểm lại thành tích.
Kozhedub đã bắn rơi 3 máy bay và trở về với vài lỗ thủng trên đuôi.
Gromakovsky bắn được 2, và Kumanichkin cùng Shenkolin mỗi người được 1.
“15 Focke Wulf rơi ngay đầu cầu,..."
“Cộng thêm một số chắc rơi trên đường quay về.” “Tuyệt vời!”
Luftwaffe một thời hùng mạnh nay bị truy quét trên bầu trời,
và phi công tiêm kích Xô-viết thỏa sức bay lượn trên thủ đô kẻ thù.
Nhiều người đã trở thành phi công Át trong những ngày cuối cuộc chiến,
trong số đó Vladimir Gromakovsky hạ được 5 máy bay địch
trong Trận Công phá Berlin,
và Viktor Aleksandriuk hạ được 7 chiếc.
Đêm ngày 9/5, các phi công tỉnh giấc trong tiếng súng nổ.
Họ choàng khỏi giường và chạy ra ngoài cùng vũ khí cá nhân.
Vẫn còn các trung đoàn Đức chiến đấu tìm cách chạy sang phía Tây,
đôi khi tấn công cả các sân bay họ gặp.
Nhưng các phát súng này đang chĩa lên trời.
Có tin đến rằng nước Đức đã đầu hàng vô điều kiện.
Chiến tranh cuối cùng đã kết thúc.
Với Không quân Xô-viết, đó là một cuộc chiến nhiều tổn thất và đẫm máu,
nhưng từ thất bại khủng khiếp năm 1941
họ đã trở thành một lực lượng không quân hùng mạnh không khoan nhượng,
đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng cuối cùng của Liên bang Xô-viết.
Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.