All language subtitles for S02E04 The Battle of the Caucasus

af Afrikaans
ak Akan
sq Albanian
am Amharic
ar Arabic
hy Armenian
az Azerbaijani
eu Basque
be Belarusian
bem Bemba
bn Bengali
bh Bihari
bs Bosnian
br Breton
bg Bulgarian
km Cambodian
ca Catalan
ceb Cebuano
chr Cherokee
ny Chichewa
zh-CN Chinese (Simplified)
zh-TW Chinese (Traditional)
co Corsican
hr Croatian
cs Czech
da Danish
nl Dutch
en English
eo Esperanto
et Estonian
ee Ewe
fo Faroese
tl Filipino
fi Finnish
fr French
fy Frisian
gaa Ga
gl Galician
ka Georgian
de German
el Greek
gn Guarani
gu Gujarati
ht Haitian Creole
ha Hausa
haw Hawaiian
iw Hebrew
hi Hindi
hmn Hmong
hu Hungarian
is Icelandic
ig Igbo
id Indonesian
ia Interlingua
ga Irish
it Italian
ja Japanese
jw Javanese
kn Kannada
kk Kazakh
rw Kinyarwanda
rn Kirundi
kg Kongo
ko Korean
kri Krio (Sierra Leone)
ku Kurdish
ckb Kurdish (Soranî)
ky Kyrgyz
lo Laothian
la Latin
lv Latvian
ln Lingala
lt Lithuanian
loz Lozi
lg Luganda
ach Luo
lb Luxembourgish
mk Macedonian
mg Malagasy
ms Malay
ml Malayalam
mt Maltese
mi Maori
mr Marathi
mfe Mauritian Creole
mo Moldavian
mn Mongolian
my Myanmar (Burmese)
sr-ME Montenegrin
ne Nepali
pcm Nigerian Pidgin
nso Northern Sotho
no Norwegian
nn Norwegian (Nynorsk)
oc Occitan
or Oriya
om Oromo
ps Pashto
fa Persian
pl Polish
pt-BR Portuguese (Brazil)
pt Portuguese (Portugal)
pa Punjabi
qu Quechua
ro Romanian Download
rm Romansh
nyn Runyakitara
ru Russian
sm Samoan
gd Scots Gaelic
sr Serbian
sh Serbo-Croatian
st Sesotho
tn Setswana
crs Seychellois Creole
sn Shona
sd Sindhi
si Sinhalese
sk Slovak
sl Slovenian
so Somali
es Spanish
es-419 Spanish (Latin American)
su Sundanese
sw Swahili
sv Swedish
tg Tajik
ta Tamil
tt Tatar
te Telugu
th Thai
ti Tigrinya
to Tonga
lua Tshiluba
tum Tumbuka
tr Turkish
tk Turkmen
tw Twi
ug Uighur
uk Ukrainian
ur Urdu
uz Uzbek
vi Vietnamese
cy Welsh
wo Wolof
xh Xhosa
yi Yiddish
yo Yoruba
zu Zulu

Original subtitles

Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.

BÃO TÁP SÔ VIẾT THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG

TRẬN ĐÁNH KAVKAZ.

Tháng 7/1942, một năm sau khi Hitler xâm lược Liên Xô.

Quân Đức tung ra một cuộc tấn công lớn vào miền Nam nước Nga.

Mục tiêu của họ là vùng giếng dầu Kavkaz của Liên Xô.

Nguyên bản được sản xuất cho Truyền hình Nga năm 2011.

Đây là câu chuyện về “Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” của Nga và về chặng đường dài của Hồng quân đi từ bại trận cho đến chiến thắng.

Tại một trạm gác ở miền nam Nga.

Hai người trong quân phục Hồng quân đang trao đổi qua lại với nhau, bằng tiếng Đức.

“Hôm nay, chúng ta sẽ vượt qua lằn ranh giữa Châu Âu với Châu Á.”

Một người thứ 3, mặc quân phục công binh chiến đấu Đức, đang chăm chú nghe.

Họ là lính Trung đoàn Brandenburg,

một đơn vị đặc nhiệm tinh nhuệ của Đức,

thường mặc quân phục đối phương khi thi hành nhiệm vụ.

Họ vừa mới ngăn không cho công binh Nga phá hủy đập nước trên sông Manych.

Họ đã nghĩ chiến dịch được thực hiện thành công,

nhưng đột nhiên một người lạ xuất hiện trên ngưỡng cửa.

Chiến sĩ vô danh ấy đã phá nổ Đập nước Veselovsky

vào ngày 27/7/1942,

làm mực nước dâng cao đột ngột ở hạ nguồn

và tạo thành trở ngại lớn trên đường tiến của quân Đức.

Sông Manych đã biến từ con sông rộng 40 m

thành cái hồ khổng lồ rộng 4 km.

Xe tăng Đức đáng lẽ có thể chạy thẳng băng qua đập

thì nay phải chở bằng phà qua hồ từng chiếc một.

Điều này đã đem lại khoảng thời gian vô cùng quý báu cho Hồng quân đang rút lui.

Nhưng đó chỉ là một thắng lợi cục bộ nho nhỏ.

3 ngày trước Cụm TĐQ A của Đức

đã chiếm được thành phố Rostov-na-Donu, cửa ngõ vào vùng Kavkaz.

Mũi tấn công chính của Đức xuất phát từ đó đã chọc sâu hơn về phía Tây.

Tin tốt duy nhất là Tập đoàn quân Xe tăng 4 của Đức

sẽ sớm tách khỏi hướng Kavkaz để chi viện tấn công Stalingrad.

Cùng cái ngày đập nước bị nổ, Stalin nhận được báo cáo

của Tư lệnh Phương diện quân Bắc Kavkaz,

Nguyên soái Semyon Mikhailovich Budyonny.

Ông đề xuất lập tức rút toàn bộ lực lượng của mình

về phòng tuyến sông Terek và dãy Kavkaz.

Sau thất bại gần đây của Liên Xô ở Krym, Kharkov và vùng Donbass,

quân Đức đã chiếm ưu thế đáng kể về số lượng so với quân Liên Xô ở vùng Kavkaz.

Budyonny tin rằng cách duy nhất để ổn định tình hình

là lập tức rút xuống phía Nam.

Ngày hôm sau, Stalin ký bản mệnh lệnh nổi tiếng Số 227 “Không lùi một bước!”,

đồng thời ông chấp thuận kế hoạch rút lui của Budyonny.

Nghe có vẻ mâu thuẫn,

nhưng tại Kavkaz logic quân sự chỉ bị chi phối bởi yêu cầu hành động.

Sông Terek và dãy Kavkaz đã tạo thành một phòng tuyến thiên nhiên đáng kể.

Quân đội cần lập tức rút về chiến tuyến này,

trước khi quân Đức kịp bao vây và tiêu diệt họ.

Mọi lực lượng dự trữ của Liên Xô đã được gửi tới bảo vệ Stalingrad,

nơi một trong những trận đánh quyết định của cuộc chiến đang diễn ra.

Không còn dư quân để cấp cho Phương diện quân Bắc Kavkaz.

Và do đó, quân của Budyonny bắt đầu đào công sự dọc sông Terek.

Cuộc tấn công mùa hè 1942 của Đức đang vào nhịp.

Cụm TĐQ B đang tiến về Stalingrad,

từ nơi nó đáng ra phải bảo vệ sườn Bắc của Cụm TĐQ A

đang hướng về vùng giếng dầu Kavkaz của Liên Xô.

Trước chiến tranh, 70 % lượng dầu của Liên Xô khai thác từ vùng giếng dầu Baku ở Kavkaz.

Khoảng ¼ là từ vùng quanh Groznyi và Maikop.

Để mất chúng sẽ là thảm họa và khiến Hồng quân không còn nhiên liệu.

Hitler tin rằng cuộc chiến sẽ được quyết định nhờ việc kiểm soát được nguồn cấp dầu mỏ.

Ông ta bị ám ảnh vì dầu mỏ và thậm chí đã tìm hiểu cách khai thác và tinh lọc dầu.

Khi Chiến dịch Fall Blau bắt đầu,

Cụm TĐQ A đã tới được phòng tuyến Liên Xô

và bắt đầu tiến nhanh về phía những giếng dầu thiết yếu này.

Tập đoàn quân Xe tăng 1 của von Kleist đi tiên phong.

Năm 1941, von Kleist đã chỉ huy Tập đoàn quân Xe tăng 1 ở Ukraina.

Trong những tuần đầu của cuộc chiến, ông ta đã thắng một trận đấu tăng lớn dài 4 ngày tại Brody.

Giờ đây, ông ta được tin tưởng sẽ chiếm gọn vùng mỏ dầu Kavkaz.

Nguyên soái Budyonny, trái lại, chỉ biết có thất bại.

Giờ đây, ông theo dõi lính mình rút lên núi.

Vùng núi Kavkaz trải dài 1.300 km từ Biển Caspien tới Biển Đen.

Rặng núi chia thành 3 đoạn:

Đông Kavkaz chạy từ Bán đảo Apsheron tới Núi Kazbek,

Trung Kavkaz từ Kazbek tới Núi Elbrus,

và Tây Kavkaz từ Elbrus tới Anapa.

Những đỉnh cao nhất phủ đầy tuyết và băng quanh năm,

và để đến được Groznyi, ta cần vượt qua được con sông Terek chảy xiết.

Von Kleist lập kế hoạch tiến quân thẳng tới Ordzhonikidze,

và đi theo ngả đường quân sự cũ của Gruzia dẫn thẳng tới Tbilisi.

Ông ta sẽ bỏ qua những đèo núi của rặng Tây Kavkaz,

nhằm tập trung lực lượng.

Nhưng Hitler bác bỏ kế hoạch này,

và Quân đoàn Sơn cước 49 (XXXXIX Gebirgskorps) được chuyển đến Tây Kavkaz.

Hitler đã cộng thêm một mục tiêu vào danh sách các mục tiêu đầy tham vọng của Cụm TĐQ A.

Ông ta còn yêu cầu chiếm lấy các căn cứ hải quân Liên Xô trên bờ Biển Đen.

Budyonny có rất ít xe tăng trong tay,

nhưng do ở thế tĩnh nên ông có được ưu thế về trọng pháo.

Ông cũng được yểm trợ bởi những đơn vị không quân mạnh.

Mùa hè năm 1942 chứng kiến một thay đổi quan trọng trong việc tổ chức Không quân Liên Xô VVS.

Các tập đoàn quân không quân giờ được phân về từng phương diện quân.

Đó là cơ cấu tương tự như cơ cấu Luftwaffe sử dụng,

có nghĩa là việc chỉ huy không quân giờ sẽ tập trung hơn, cho phép phối hợp hành động.

Trước đây, các đơn vị không quân Xôviết bị chia thành các đội hình nhỏ không hiệu quả.

Lực lượng không quân Xôviết ở Kavkaz bao gồm có

không quân hải quân của Hạm đội Hắc Hải,

Tập đoàn quân Không quân 5 của Trung tướng Gurianov

và Tập đoàn quân Không quân 4 của Thiếu tướng Vershinin.

Konstantin Andreevich Vershinin

bắt đầu binh nghiệp từ bộ binh trong Nội chiến Nga.

Ông chỉ bắt đầu học bay khi ở tuổi ba mươi, sau khi được chuyển vào Học viện Không quân.

Ban đầu ông không mặn mà với máy bay,

nhưng kinh nghiệm lính bộ binh giúp ông hiểu

nên sử dụng không quân như thế nào để hỗ trợ lính mặt đất.

Vào tháng 8/1942,

những người sống sót của PDQ Budyonny đã dựa vào các phi công của Vershinin.

Họ liên tục trút bom và tên lửa xuống những đoàn xe Đức đang tiến quân.

Không quân cũng là đôi mắt cho Hồng quân đang rút lui.

Các máy bay trinh sát bám sát tiến độ tấn công xuống miền Nam của Tập đoàn quân Xe tăng von Kleist.

“Tôi thấy một đoàn xe Đức” .

“2 tăng và 12 xe tải.” .

Theo sát gót đội quân Xô-viết đang rút lui

là binh lính các Sư đoàn Sơn cước 1 và 4 của Đức.

“Đi theo lối này, ta sẽ tới được đấy vào chiều nay..." .

"... Trước chiến tranh tôi đã đến đây. - Theo tôi.” .

Những người này là các chuyên gia chiến tranh vùng núi đến từ Tyrol thuộc Áo và Alps thuộc xứ Bavaria.

Họ di chuyển với dụng cụ leo núi, súc vật thồ và khí tài chuyên dụng

bao gồm pháo nhẹ có thể tháo lắp thành từng khúc

để chở trên lưng la.

Bộ binh sơn cước được lệnh đánh xuyên qua

các đèo núi ở phía Tây Elbrus và tiến về Tbilisi.

Họ chỉ còn vài tuần để đi qua vùng núi trước khi mùa đông tới khiến việc di chuyển là không thể.

Nếu họ chọc qua được tại đây và tại phía Tây,

họ có thể chiếm được các căn cứ hải quân cuối cùng của Liên Xô bên bờ Biển Đen.

Các chỉ huy địa phương của Liên Xô tin rằng vùng núi là một trở ngại ghê gớm

nên chỉ cần trấn giữ đèo bằng các phân đội nhỏ.

Nhưng họ đã không tính đến sự chuyên nghiệp của các sư đoàn sơn cước Đức.

Lính sơn cước Đức khởi đầu

tiến qua dãy Tây Kavkaz vào ngày 15/8.

Họ lên kế hoạch táo bạo di chuyển bọc sườn Đèo Klukhor.

2 tiểu đội trang bị trung liên và cối đã trèo tới đây.

Lính phòng thủ Liên Xô bất ngờ thấy kẻ địch ở phía sau mình.

“Số 1, Số 1, Chim ưng đây, nghe rõ không?” .

Thông tin kém khiến khủng hoảng thêm trầm trọng.

Mãi 2 ngày sau khi nó xảy ra, Bộ chỉ huy Xô-viết mới hay tin về trận đánh.

Quân dự bị được lập tức gửi đến bao gồm

lính NKVD và thiếu sinh quân Học viện Quân sự Sukhumi.

Bộ Tổng TM Stavka điện đài cảnh báo khẩn cấp:

“Địch sử dụng lính sơn cước được huấn luyện đặc biệt ..."

"... và sẽ sử dụng mọi con đường tại vùng núi Kavkaz để xuống miền Nam Kavkaz ..."

"... Những chỉ huy từng tin rằng vùng núi là trở ngại không thể vượt qua đã mắc một sai lầm chết người ..."

"... Chỉ những tuyến phòng thủ được chuẩn bị khéo léo và kỹ lưỡng mới là không thể vượt qua.”

Nhưng lời cảnh báo đến tay những người phòng thủ Đèo Klukhor quá muộn.

Mãi 1 tuần sau khi bị tấn công, quân dự bị Liên Xô mới tới Đèo Klukhor.

Lúc này quân Đức đã tới được sườn phía Nam,

và dù đã chặn lại không để tiến xa hơn, Liên Xô cũng không đánh bật họ được.

Trong khi đó, quân Đức đưa một phân đội tới Núi Elbrus,

đỉnh cao nhất của dãy Kavkaz.

Ngày 18/8, họ tới được Trại nghỉ du lịch số 11.

Ở độ cao 4130 m trên mực nước biển,

Trại nghỉ số 11 được xem là khách sạn ở cao nhất trên thế giới.

Căn chòi gỗ đầu tiên được dựng lên năm 1932.

Sáu năm sau đó là 1 tòa nhà 3 tầng

bọc bằng kim loại, trông giống như 1 khinh khí cầu đặt tại đây.

Từ chỗ trú này, quân Đức leo tiếp lên đỉnh núi.

Ngày 21/8, lính của Sư đoàn Sơn cước 1 Đức

đã cắm lá cờ thập ngoặc trên núi Elbrus, đỉnh núi cao nhất Châu Âu.

Đó là 1 thắng lợi mang tính tuyên truyền. Nghe nói chính Hitler

đã điên tiết trước điều mà ông ta xem chỉ là trò quảng cáo rẻ tiền.

Trong khi đó, tại Maskva, sự việc này đã gây ra mối lo ngại nghiêm trọng.

Vị thủ trưởng đáng sợ của cơ quan An ninh NKVD Lavrenty Beria đích thân bay tới Sukhumi,

quê nhà của mình, cách chức Tư lệnh Tập đoàn quân 46, Tướng Vasily Sergatskov.

Tại Đông Kavkaz, Tập đoàn quân Xe tăng 1 của von Kleist

đã chiếm được một bàn đạp qua sông Terek,

nhưng họ bị các đơn vị Xô-viết chống trả quyết liệt,

trong đó có nhiều người địa phương hiểu rõ vùng núi này như trong lòng bàn tay.

Các trinh sát pháo binh đóng trên cao nguyên hướng dẫn chính xác cho hỏa lực

Katyusha và lựu pháo nã xuống chiếc cầu phao của Đức qua sông Terek.

Quân Đức cũng phải đương đầu với thứ rào cản chống tăng kinh khủng:

lính Xô-viết đổ dầu xuống các rãnh đất rồi dùng súng phun lửa bắn vào,

tạo thành một bức tưởng lửa và khói độc đen dày không thể vượt qua.

Những ngôi làng ở vùng Malgobek bị chiếm đi giành lại nhiều lần.

Mãi tới khi quân Đức bí mật chuyển Sư đoàn Xe tăng 13 xuống phía Nam

băng qua sông Terek, họ mới chiếm được hẳn vùng này.

Họ tăng cường thêm Sư đoàn Cơ giới SS-Division (mot.) “Wiking”.

Ngày 27/9, quân Đức chiếm được Elkhotovo

nhưng ngày hôm sau bị buộc phải lui lại phòng thủ.

Trong khi đó, các đơn vị Luftwaffe ở Kavkaz bị chuyển lên phía Bắc tới Stalingrad,

khiến Không quân Xô-viết được rảnh tay.

Máy bay của Vershinin nhắm vào các cầu phao Đức qua sông Terek.

Vershinin luôn nhấn mạnh với lính mình tầm quan trọng của việc yểm trợ lực lượng mặt đất.

“Chúng ta tồn tại là vì họ”, ông nói với các phi công, “chứ không phải ngược lại”.

Rất khó để đưa xe tăng từ những nhà máy ở Nga tới quân đội ở Kavkaz.

Nhưng một trong những tuyến tiếp vận Lend-Lease của Đồng Minh đi từ Iran xuyên qua Kavkaz.

Do đó có rất nhiều xe tăng Xô-viết của phương diện quân này là xe tăng Anh và Mỹ.

Vào tháng 10/1942, Phương diện quân Kavkaz có 300 xe tăng,

trong đó xe tăng Anh-Mỹ chiếm 42%,

T-34 chiếm 20%,

xe tăng nặng KV chỉ 2%,

36% còn lại là nhiều loại xe tăng nhẹ Liên Xô.

Xe tăng M3 Stuart của Mỹ và Valentine của Anh

kém xa so với T-34 và hầu hết xe tăng Đức,

nhưng chúng cải tiến hơn nhiều so với tăng nhẹ Xô-viết

như loại T-26 và BT-7

với giáp mỏng dính và pháo quá yếu.

Tập đoàn quân Không quân 4 của Vershinin cũng được nhận các khí tài Lend-Lease.

Phi công của ông là những người đầu tiên nắm vững loại ném bom 2 động cơ A-20 Boston của Mỹ.

Họ đặc biệt thích thiết bị định hướng của nó, khiến nó an toàn hơn các loại

máy bay khác khi bay qua địa hình núi non trong thời tiết không thể đoán trước được.

Một loại máy bay khác cũng rất hợp với vùng núi này là I-153 “Чайка” (Hải Âu) 2 tầng cánh.

Tốc độ chậm nhưng cơ động tuyệt vời

khiến nó trở thành máy bay tiêm kích ném bom giữa các khe hẻm và đèo núi.

Cảnh máy bay “Hải Âu” bay thấp tấn công bằng rocket là rất phổ biến trong các trận đánh ở vùng cao ấy.

“Đi nào, đi nào, đi nào!”

Trên mặt đất, những đơn vị đặc nhiệm của NKVD, được huấn luyện leo núi, được thành lập.

Họ tiến hành đánh lui quân Đức

bằng lối luồn sâu chọc sườn đặc trưng.

Trang bị của họ là pha trộn kỳ lạ giữa quần áo thể thao thời tiền chiến,

quân phục bộ đội và dụng cụ chiếm được của Đức.

Chịu khó trinh sát là nền tảng chiến dịch của các đơn vị ấy.

Vào đầu tháng 9, một trong những đơn vị ấy đã lật ngược thế cờ với quân Đức ở

Đèo Klukhor, nơi diễn ra những thất bại ban đầu.

“Nhìn kìa, bọn Fritz ở ngay dưới mũi chúng ta!”

Lính sơn cước Liên Xô phát hiện một đoàn dài lính Đức

và súc vật thồ đang hướng tới Đèo.

Chúng đang ở rất xa, ngoài tầm súng trường.

Ngay lúc đó, 3 máy bay sơn hình Sao Đỏ bay vọt qua đầu.

“Nhìn kìa, cánh Hải Âu!”

Gusev, chỉ huy bộ phận công binh, kể lại những gì đã xảy ra:

“Phi công của ta không chỉ bay giỏi mà còn nắm rõ vùng núi này..."

"... Ban đầu họ tấn công thẳng vào đoàn quân nhưng không ăn thua..."

"... Thế là họ ném bom sườn núi phía trên con đường ..."

"... Những khối đá lớn lăn xuống trúng đoàn xe địch ..."

"... Sườn núi chìm trong lớp bụi dày đặc và khi khói bụi tan...”

"... đoàn xe địch đã bị tiêu diệt.”

Tháng 9/1942, chiến sự tại vùng đèo núi Kavkaz tạm lắng.

Bộ binh sơn cước Đức không thể khai thác thêm

thắng lợi ban đầu để chọc đến bờ biển.

Nhưng lực lượng Liên Xô cũng không đủ mạnh

để chiếm lại các đèo núi đã mất hồi tháng 8.

Ngày 28/9, một trong những trận đánh khác thường nhất Thế Chiến thứ II đã diễn ra

tại độ cao hơn 4.000m so với mực nước biển.

Liên Xô đã lập một chi đội đặc nhiệm NKVD khoảng 100 người

để chiếm lại Trại nghỉ số 11 gần đỉnh núi Elbrus.

Họ được chỉ huy bởi Trung úy Grigory Els

với trang bị súng máy, cối và súng trường bắn tỉa.

Lính sơn cước Đức bất ngờ trước sự táo bạo của cuộc tấn công

nhưng mau chóng trấn tĩnh lại.

Tiếng súng máy vang dội khắp vùng núi suốt nhiều giờ liền.

Dần dần thế trận xoay chiều bất lợi cho Trung úy Grigory Els và lính của mình.

Chỉ có 4 người trong chi đội sống sót trở về.

Trung úy là một trong nhiều người phải rải xác lại trên sườn núi.

Vài ngày sau, nhiệt độ ở vùng núi tụt mạnh.

Chẳng mấy chốc, hai phe bị thiệt người do giá ăn chân tay và lở tuyết nhiều hơn là trong giao chiến.

Không thể chiến đấu trong điều kiện như vậy được nữa.

Quân Đức sẽ không đột phá xa hơn ở vùng núi trong năm 1942 nữa.

Tại Kavkaz, quân Đức tìm thấy một số ủng hộ từ cánh dân tộc chủ nghĩa

và chống cộng trong cộng đồng địa phương.

Lịch sử lâu đời của chủ nghĩa dân tộc tại vùng Kavkaz

khiến nó trở thành mảnh đất tuyển quân đầy hứa hẹn cho Wehrmacht.

Họ đã bắt được rất nhiều người đến tuổi nhập ngũ ở Gruzia, Tresnia, Armenia và Azerbaijan.

Một số người trong số đó sẵn lòng chống lại Liên Xô.

Họ được lập thành cái gọi là “Đoàn Lê dương phương Đông” (Ostlegionen hay Osttruppen),

nhưng rất nhiều những đơn vị như vậy hóa ra lại cực kỳ không đáng tin cậy.

Vào tháng 10, Sư đoàn Xe tăng 23. Panzer-Division (sư này chủ yếu sử dụng tăng chiến lợi phẩm-danngoc)

được thông báo rằng 1 tiểu đoàn lính tình nguyện Gruzia dự tính sẽ chạy sang phía Liên Xô.

Người Đức lập tức sắp xếp giải giáp đơn vị này và rút họ khỏi tiền tuyến.

Sau 1 trận bắn nhau với lính Đức, một số lính Gruzia đã tìm cách thoát được về phòng tuyến Xô-viết.

Tình tiết này là triệu chứng về giá trị quân sự không đồng nhất của “Đoàn Lê dương phương Đông”.

Đầu cầu quân Đức qua sông Terek

vẫn tiếp tục là nỗi lo của Bộ tư lệnh PDQ Liên Xô.

Vào tháng 11, họ quyết định phải thủ tiêu đầu cầu này bằng một cuộc tấn công vượt trội về bộ binh và xe tăng.

Nhưng trước khi nó diễn ra, von Kleist sử dụng lượng dự trữ nhiên liệu và đạn dược cuối cùng

của mình để thực hiện đòn tấn công của riêng mình.

Ông ta quyết định sẽ chọc thẳng tới tận Ordzhonikidze,

dọc theo con đường mới đi qua các thị trấn Baksan và Nalchik.

Xe tăng của Tập đoàn quân Xe tăng 1 được không quân yểm trợ đã tiến rất nhanh.

Dường như người Đức đã khôi phục lại được tinh thần Blitzkrieg.

Chẳng bao lâu họ đã tới được ngoại ô Ordzhonikidze,

nhưng thành công của họ không kéo dài được lâu.

Lực lượng của Phương diện quân Nam Kavkaz đã được gửi tới để đè bẹp đầu cầu sông Terek.

Hai sư đoàn xe tăng Đức bị bao vây gần làng Gizel.

Quân Đức buộc phải bỏ lại xe cộ và khí tài nặng rồi đi bộ đánh triệt thoái.

Đối với quân Đức, đến được Tbilisi giờ thành chuyện không tưởng.

Năm 2007, Tổng thống Putin sẽ trao tặng cả Malgobek và Ordzhonikidze (ngày nay đổi tên là Vladikavkaz)

danh hiệu “Thành phố Chiến đấu Anh dũng” vì sự anh dũng trong chiến tranh.

Tháng 11, việc Tập đoàn quân 6 bị bao vây tại Stalingrad đã đảo ngược toàn bộ chiến cuộc.

Nếu quân Đức không lập tức rút khỏi Kavkaz,

Hồng quân có thể sẽ tới Rostov và cắt rời toàn bộ Cụm TĐQ A.

Ngày 22/11, von Kleist được thăng làm Tư lệnh Cụm TĐQ A.

Ông ta lập tức ra lệnh Tập đoàn quân Xe tăng 1 rút về Rostov,

trong khi Tập đoàn quân 17 rút về đầu cầu Kuban.

Cách duy nhất để tiếp vận cho đầu cầu Kuban là dùng không quân.

Điều này sẽ là bất khả thi nếu Tập đoàn quân 6 vẫn trụ được ở Stalingrad.

Nhưng việc họ đầu hàng đã giúp Luftwaffe rảnh tay

để điều đủ máy bay vận tải lập một cầu tiếp vận tại Kuban.

Ngày 13/3/1943, Cụm TĐQ A nhận được lệnh mới từ Bộ Tổng TM OKH

phải giữ được đầu cầu Kuban và Krym bằng mọi giá.

Von Kleist lập báo cáo riêng của mình gửi cho Bộ Tổng TM OKH về giá trị của đầu cầu Kuban:

“Ưu thế của địa điểm này là kìm chân được một lượng đáng kể quân Nga..."

"... Hạm đội Hắc Hải của địch sẽ không thể thực hiện các chiến dịch tấn công, ..."

"... việc phòng thủ Krym sẽ thuận lợi hơn.”

Mùa xuân năm 1943, phần lớn Mặt trận phía Đông đều yên tĩnh,

cả hai bên đều dồn sức chuẩn bị Trận Kursk.

Nhưng tại Kuban, giao tranh vẫn sôi sục.

Vershinin hạ lệnh xây dựng một sở chỉ huy không quân gần chiến tuyến.

Chiến trường tại đây nhỏ hẹp,

các trận không kích và bay tuần tiễu có thể theo dõi

từ dưới đất và thông tin lại cho phi đội chiến đấu trên không.

“- Phi đội 3, cất cánh , Khu vực 4! - Máy bay tiêm kích-ném bom của địch đang tới gần.” .

Không chiến trên đầu cầu Kuban

thường gồm 30 - 40 máy bay của cả 2 bên.

Vershinin yêu cầu các phi công tiêm kích của mình

bằng mọi giá phải ngăn không cho máy bay ném bom địch tới gần chiến tuyến của bộ binh.

Trận chiến trên bầu trời Kuban trở thành một trong những trận nổi tiếng nhất Mặt trận phía Đông.

Dưới sức ép không ngớt của Hồng quân,

đầu cầu Kuban cuối cùng bắt đầu bục vỡ vào tháng 8/1943.

Quân Đức bị bọc sườn do đà tiến của Liên Xô ở phía Bắc

và cuộc đổ bộ tại Novorossiysk.

Vào tháng 10, Tập đoàn quân 17 phải di tản về Krym.

Nhu cầu dầu mỏ của Hitler đã biến thành thảm họa.

Một sĩ quan pháo binh Xô-viết đang nghiên cứu vị trí địch

ở Eo đất Perekop, cửa ngõ vào Krym.

“Cây keo giữa đồng trống kia là mốc chuẩn cho ta. - Bên phải - 5.” .

“Tầm bắn - 1.400 m.” .

Anh ta đang tìm kiếm mục tiêu cho khẩu cối 280 mm của mình.

Những viên đạn 200 kg của nó có thể xuyên thủng những bức tường dày nhất.

Cuộc chuẩn bị cho chiến dịch đánh chiếm Krym đang diễn ra.

Hồng quân tiến quân qua Ukraina

đã cô lập quân Đức và Romania trong bán đảo này.

Nhưng chỉ có 3 dải đất hẹp nối liền Krym với đất mẹ.

Tại Perekop, eo đất chỉ rộng có 14 km.

Không có đủ khoảng trống để cơ động.

Quân Đức và quân Romania của Tập đoàn quân 17

đã có 5 tháng để củng cố phòng thủ Eo đất Perekop.

Các tổ xạ thủ súng máy đã sẵn sàng quét sạch các đợt xung phong của bộ binh Xô-viết.

Các khẩu lựu pháo đã nấp sẵn trong thung lũng.

Nhà độc tài Romania Nguyên soái Antonescu muốn Hitler cho sơ tán Krym

nơi 7 sư đoàn Romania còn lại đang đóng chốt.

Nhưng Quốc trưởng sợ Liên Xô sẽ dùng các sân bay ở Krym để ném bom các giếng dầu Romania.

Tuyến đường vận chuyển quặng chrome cho Đức từ Thổ Nhĩ Kỹ cũng có thể bị đe dọa.

Đô đốc Dönitz nói với Hitler rằng nếu cần,

Hải quân có thể sơ tán Tập đoàn quân 17 bằng đường biển.

Nhưng ông ta dựa trên việc Đức có thể giữ được Cảng Odessa.

Và ngày 10/4/1943, Odessa rơi vào tay Hồng quân.

10 ngày sau, Hitler cách chức Tư lệnh Cụm TĐQ A của von Kleist.

Người thay ông ta là Đại tướng Ferdinand Schörner.

Sau khi tới Krym, Schörner báo cáo lại cho Hitler rằng

tình hình đang ổn định và có thể giữ được Krym thêm nhiều tháng nữa.

Ngày 8/4/1944, tại Perekop, Sivash và Kerch,

pháo binh Liên Xô cất tiếng gầm rú.

Những hầm pháo phủ gỗ súc biến thành đống vụn bào,

nhà cửa biến thành gạch vụn.

Cuối cùng, các bóng người mặc quân phục nhô lên từ chiến hào Hồng quân,

vang lên tiếng hô xung phong “Ura” của Nga và tiếng cót két của xích xe tăng.

Quân Đức đổ xô từ trong hầm trú ẩn ra vị trí chiến đấu.

Những họng pháo nấp kín khai hỏa.

Đó là một mẹo cũ.

Một trinh sát pháo binh tiền tuyến Xô-viết đang tỉ mỉ ghi lại các chớp lửa đầu nòng

và báo số liệu về các pháo đội bằng điện thoại.

- Bên trái - 140. - Bắn. .

Pháo binh Liên Xô nện giã các vị trí quân Đức vừa để lộ.

Các quân bù nhìn bị nát bươm, nhưng chúng đã hoàn thành được nhiệm vụ.

Giờ đây quân lính hạ chúng xuống và chuẩn bị tấn công thực sự.

Họ được yểm trợ bởi tăng T-34 của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 2,

trong số đó có loại tăng phun lửa đáng sợ OT-34.

Cuộc tấn công của Hồng quân thật không thể chống lại được.

Cuộc tấn công được hỗ trợ bởi cuộc đổ bộ đường biển,

chọc sườn quân Đức đang phòng thủ ở Perekop.

Tư lệnh Tập đoàn quân 17, Tướng Jaenecke, nhận được phép rút lui.

Quân Đức bắt đầu mau chóng rút về Sevastopol,

nơi Hitler mong đợi họ giữ vững được nhiều tháng nữa, giống như người Liên Xô đã làm năm 1942.

Cuộc sơ tán quân Đức và Romania từ Sevastopol bắt đầu.

Các tàu vận tải sẽ bị phơi trần ra.

Nhưng sau khi để mất 1 thiết giáp hạm và 2 khu trục hạm vì bị không kích

vào năm trước, Stavka ra lệnh cho các tàu lớn của Hạm đội Hắc Hải

phải tránh xa tầm hoạt động của Luftwaffe.

Các tàu ngầm Xô-viết bị đã bị thiệt hại nặng.

Điều này đặt gánh nặng hàng đầu lên không quân để ngăn cản địch di tản.

Vào 1944, các phi công hải quân của Hạm đội Hắc Hải

đã thuần thục cách tấn công chết người mới

đó là ném bom “thia lia”.

Ném bom “thia lia” phải thực hiện với tốc độ cao ở cao độ thấp,

khi quả bom được thả, nó sẽ nảy thia lia trên mặt nước và đập vào sườn con tàu.

Trong khi đó, phi công phải bốc thẳng lên để tránh đâm vào thượng tầng tàu.

Ném bom “thia lia” có rất nhiều ưu điểm so với phóng ngư lôi.

Trước hết, nó rất hiệu quả khi đánh các tàu có đáy nông như phà đổ bộ.

Thứ hai, con tàu có thể sớm phát hiện ngư lôi và lái tránh,

nhưng quả bom được ném chỉ trong vài giây.

Thứ ba là ngư lôi rất đắt và có yêu cầu bảo trì cao,

trong khi đó bom thì rất nhiều và rẻ.

Máy bay ném bom Boston tỏ ra là loại ném bom thia lia hiệu quả nhất.

Nhưng chiến thuật mới cũng được sử dụng hiệu quả

bởi tiêm kích Lavochkin La-5, cường kích Ilyushin Il-2 và ném bom Ilyushin Il-4.

Các đơn vị của Phương diện quân Ukraina 4 truy kích địch đến tận cửa ngõ Sevastopol.

Pháo hạng nặng được đưa tới để chuẩn bị cho cuộc phong tỏa dài ngày.

Ngày 5/5/1944, sau trận pháo kích 90 phút,

bộ binh Xô-viết bắt đầu tấn công.

Năm 1941, Hồng quân đã giữ được Sevastopol suốt 9 tháng trời chống lại quân Đức,

nhưng lần này thì không dài hơi đến vậy.

Bờ biển phía Bắc Sevastopol rơi vào tay Hồng quân chỉ sau 3 ngày,

đưa bến cảng vào trong tầm bắn của pháo binh Xô-viết.

Tàu thuyền Đức từ Cảng Constanta ở Romania đến

phải liều mình dưới các đợt không kích và pháo kích khi cập bến.

Đô đốc Oktyabrsky, Tư lệnh Hạm đội Hắc Hải,

đã xin phép đưa các tuần dương hạm của mình đi tấn công các tàu vận tải Đức và Romania,

nhưng Stavka từ chối.

Các tàu chiến lớn không được để phơi mình trước các cuộc tấn công bằng máy bay.

Đó là công việc của tàu ngầm và không quân.

Trong những giờ đầu tiên của ngày 10/5,

các tàu vận tải Totila và Teja của Đức đã đến Sevastopol.

Quá nguy hiểm cho chúng nếu tiến vào cảng,

do đó các tàu này thả neo cách bờ 3 km,

trong khi 10.000 lính được chở bằng phà

từ các cầu tàu phía tây nam ở Khersones.

Trong khi việc chuyển quân đang diễn ra,

hơn 20 chiếc Il-2 Sturmovik xuất hiện trên bầu trời.

Chiếc Totila bị trúng 3 quả bom và chìm chỉ sau vài phút.

Chiếc tàu vận tải thứ 2 Teja quay đầu chạy ra biển

nhưng Không quân Xô-viết vẫn sớm đuổi kịp.

Chiếc Teja bị trúng không dưới 6 quả bom 100 kg.

Nó bị mất lái và động cơ

trước khi 11 chiếc ném bom Boston tới để kết liễu nó.

2 quả trúng mạn tàu gần đường mớn nước. Đó là những cú chết người.

2 chiếc tàu vận tải bị chìm lôi theo 8.000 mạng người.

Cho tới lúc này đó là thiệt hại nặng nhất của cuộc di tản.

Tổng cộng khoảng 2/3 Tập đoàn quân 17 được sơ tán,

bao gồm cả Tư lệnh của nó, Tướng Allmendinger,

người đến Constanta trên một chiếc tàu phóng lôi đêm 11/5.

Tướng Hartmann ở lại nắm quyền tại Sevastopol.

Nhưng không có khí tài nặng, họ không có cơ hội nào cầm chân nổi Hồng quân được hơn vài giờ.

Phần còn lại của Tập đoàn quân 17 bị tràn ngập vào ngày hôm sau,

12/5/1944.

Phóng viên chiến trường người Anh Alexander Werth

đã tới thăm Sevastopol khi trận chiến vừa kết thúc:

“Khersones thật khủng khiếp..."

"... Toàn bộ khu vực trước và sau Lũy Đất bị xới tung..."

"... với hàng ngàn hố đạn pháo và cháy đen vì lửa đạn Katyusha..."

"... Mặt đất rải đầy hàng ngàn mũ sắt Đức,..."

"... súng trường, lưỡi lê cùng các vũ khí và đạn dược khác… "

"... Hầu hết người chết đã được chôn, ..."

"... nhưng quanh ngọn hải đăng nát bét, xác lính Đức và bè gỗ bập bềnh trên mặt nước …”

Tập đoàn quân 17 Đức đã bị diệt gọn ở Krym.

Trong chiến dịch kéo dài 1 tháng, nó thiệt hại gần 70.000 người chết hoặc bị bắt.

Số lính Xô-viết bị giết hoặc bị bắt là khoảng 18.000.

Wehrmacht phải chịu những thất bại nặng nề tương tự trên Mặt trận phía Đông.

Sau khi bị Hitler cách chức, Thống chế von Kleist bị buộc phải nghỉ hưu.

Cuối chiến tranh ông ta bị người Mỹ bắt và sau đó dẫn độ tới Nam Tư.

Tại đấy ông ta bị kết án 15 năm tù vì phạm tội ác chiến tranh.

Nhưng ông ta cũng bị Liên Xô truy nã.

Năm 1948, Nguyên soái Tito đồng ý dẫn độ von Kleist sang Liên Xô.

Năm 1952, ủy ban quân sự của Tòa án Tối cao Xô-viết

kết án ông ta 25 năm tù.

Hai năm sau, von Kleist chết trong một trại tù binh chiến tranh ở Liên Xô vì bệnh yếu.

Sau khi giải phóng Krym, Tập đoàn quân Không quân 4 được đưa tới Belorussia.

Tại đây các phi đoàn của nó sẽ yểm trợ Chiến dịch Bagration

khi chiến cuộc tại phía Đông đảo chiều bất lợi cho nước Đức Quốc Xã.

Họ sẽ truy kích Wehrmacht trên khắp chiến trường Đông Phổ và Pomerania

và tới tận các đường phố Berlin.

Dịch phụ đề: Danngoc Synctime: Duchuy2007.

Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.