Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Phụ đề Việt Ngữ: Duchuy2007 Hiệu đính và dịch bổ sung: Danngoc.
BÃO TỐ SÔ VIẾT: THẾ CHIẾN THỨ II Ở HƯỚNG ĐÔNG.
Mùa hè năm 1942, sau một năm Hitler xâm lược,
Liên Xô phải chịu những tổn thất nặng nề.
Nhưng Maskva và Leningrad đã được cứu.
Giờ đây Hồng quân phải đối diện với đòn
chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) quy mô lớn cuối cùng
đòn đánh sẽ đưa kẻ thù tới bên sông Volga... tới thành phố Stalingrad.
Sáng sớm ngày 19/6/1942, một máy bay trinh sát không vũ trang của Đức
buộc phải hạ cánh xuống gần những cứ điểm của Hồng quân.
Nó không có vệt khói, dù rõ ràng có lý do để hạ cánh.
Khi quân Sô Viết đến chỗ máy bay này, họ thấy
một lỗ đạn duy nhất xuyên qua thùng xăng của nó.
Phi công đã thiệt mạng khi bắn nhau
trước khi kịp hủy chiếc cặp
có chứa những tài liệu tối mật.
Toán Hồng quân tóm lấy phần thưởng này và mang về chiến hào.
Phi công Đức đã chết là thiếu tá Reichel,
trưởng ban tác chiến của sư đoàn xe tăng Panzer 23 Đức.
Anh ta mang theo kế hoạch của chiến dịch sắp diễn ra có mật danh "Fall Blau" (Xanh lam).
Cuộc tấn công là một phần trong kế hoạch của Hitler
đánh chiếm khu vực giếng dầu của Liên Xô thuộc vùng Kavkaz.
Tài liệu của thiếu tá Reichel chỉ điểm qua một phần nhỏ của chiến dịch,
và luôn có nguy cơ được người Đức dàn dựng để
cố ý đánh lừa đối phương.
Sau khi kiểm tra giấy tờ bắt được, Stalin thận trọng đưa lời khuyên:
"Có thể chắc chắn rằng những kế hoạch tương tự như thế này ..."
"... cũng có thể được áp dụng tại các mặt trận khác." Ông viết.
Nhưng chiến dịch "Fall Blau" lại là chuyện thật.
Nó được Lục quân Đức (Wehrmacht) khởi động vào ngày 28/ 6/ 1942.
"Fall Blau" dự định chia Cụm Tập đoàn quân "Nam" thành hai phần.
Cụm Tập đoàn quân A, tấn công vùng Kavkaz
và chiếm các mỏ dầu Liên Xô.
Cụm Tập đoàn quân B, dẫn đầu bởi Tập đoàn quân số 6 của Paulus,
tiến theo phía đông về sông Volga và Stalingrad
để yểm hộ hướng tiến công Kavkaz.
Các đội hình quân Đức lao về phía Voronezh,
Stalingrad và thành phố Rostov-na-Donu.
Dù đã được cảnh báo, khu vực phía Nam của Hồng quân đã không được nhận
đủ quân tiếp viện để chịu nổi đòn đánh này.
Chẳng mấy chốc, Hồng quân phải rút lui hoàn toàn.
Trong một cuộc họp tại Bộ Tư lệnh Tối cao Sô Viết Stavka
Stalin đã quay sang Tư lệnh Phương diện quân Timoshenko và hỏi:
"Tại sao một tư lệnh PDQ lại không biết quân mình đang ở đâu?"
"... Nếu tôi nhớ không lầm, phương diện quân đó có 14 sư đoàn ..."
"... với hơn 100.000 binh sĩ."
Timoshenko bị cách chức trong cùng ngày.
Vasily Gordov được bổ nhiệm làm tân Tư lệnh PDQ.
Nhưng có chỉ huy mới là chưa đủ để cứu vãn tình hình.
Quân đội tiếp tục rút lui, hết trung tâm dân cư này
đến thành phố khác rơi vào tay quân Quốc xã.
Binh sĩ Sô Viết đầu hàng với số lượng ngày càng tăng.
nhiều người trong số họ đã hợp tác với kẻ thù,
và được gọi là "Hiwi".
Từ "Hiwi" xuất từ tiếng Đức Hilfswilliger
có nghĩa là "người sẵn sàng giúp đỡ",
dùng để chỉ những công dân Liên Xô, bao gồm cả cựu quân nhân,
tình nguyện giúp đỡ lực lượng vũ trang Đức.
họ thường được sử dụng trong vai trò hỗ trợ như
lái xe, hộ lý và đầu bếp.
Trong khi Hồng quân tiếp tục rút lui, Stalin ban hành Mệnh lệnh số 227 nổi tiếng,
từ đó sản sinh ra câu khẩu hiệu nổi tiếng:
"KHÔNG LÙI MỘT BƯỚC."
Mệnh lệnh có nội dung: "Tất cả những kiểu nói như, ta vẫn còn thừa đất ..."
... để rút lui liên tục, rằng lãnh thổ ta ...
rộng lớn, đất nước ta mênh mông và giàu có, rằng dân số của ta rất đông...
"...và có thể sinh sản thừa thãi."
"Tất cả những kiểu nói năng như vậy phải bị xóa sạch."
"Chúng ta không chấp nhận bất cứ loại chỉ huy hay chính ủy nào ..."
" ... dám cho đơn vị rời vị trí mà chưa được phép."
"... những kẻ hoảng sợ và hèn nhát phải bị tiêu diệt tại chỗ."
Xuất hiện các "Phân đội chặn hậu".
Những phân đội đó được quyền nổ súng vào chính quân mình
nếu họ tìm cách rút lui.
Rất nhiều người tán thành bản mệnh lệnh này.
"Đáng lẽ phải ban hành sớm hơn.", Một lính Hồng quân đã viết.
"Giá vậy thì chúng ta đã không bị mất những vị trí hồi mùa đông."
Nhiều người đã nghĩ, mệnh lệnh này sẽ không thể thực thi.
Các phân đội chặn hậu hiếm khi nhiều hơn vài trăm người
và thường được lập từ những binh sĩ có thể chất kém trong đơn vị.
Bốn phân đội chặn hậu của Tập đoàn quân 62 có tổng số 650 người.
Họ được huy động để áp dụng mệnh lệnh "KHÔNG LÙI MỘT BƯỚC" cho một tập đoàn quân
56 ngàn người.
Trong thực tế, các phân đội chặn hậu đã làm tốt
việc chặn những kẻ thoái lui và đưa họ quay vê tuyến đầu.
Nhưng khẩu hiệu mới và các đơn vị chặn hậu vẫn không đủ để chặn bước Lục quân Đức.
Trong những nhà ga đông đúc trên khắp Liên bang Xô viết,
tân binh được lệnh lên toa các chuyến tàu hỏa vận tải.
Từ mọi ngóc ngách của tổ quốc, các đoàn tàu chở quân lăn bánh về hướng sông Đông.
Trong khi đó, các đơn vị Đức
tiếp tục tiến về Stalingrad.
Tập đoàn quân 6 đã tiến đến gần sát sông Đông,
nhưng Tư lệnh của nó vẫn cảm thấy bực bội.
Friedrich Paulus từng làm tham mưu trưởng
của nhiều sư đoàn khác nhau từ năm 1935. Ông ta đã tham gia lập kế hoạch
"Chiến dịch Barbarossa" cho cuộc xâm lược Liên Xô.
Khi Thống chế von Reichenau, Tư lệnh Tập đoàn quân 6,
chết vì bệnh tim, Paulus được bổ nhiệm làm Tư lệnh thay thế.
Cấp trên đánh giá ông ta là một người thông minh và có tài,
nhưng nghi ngờ về tính quyết đoán của ông.
Với tiểu sử làm sĩ quan tham mưu,
Paulus giống một công chức hơn là tướng lĩnh.
Ông ta không được cấp dưới tôn sùng
như người tiền nhiệm von Reichenau.
Việc Paulus liên tục bị so sánh với Von Reichenau,
làm ông ta hết sức bực bội.
Tập đoàn quân 6 có 270 ngàn người,
3.400 pháo và súng cối,
350 xe tăng và được 1.100 máy bay yểm trợ.
Phương diện quân Stalingrad của Liên Xô có trong tay 300 ngàn quân,
5.500 pháo, 230 xe tăng và 1.000 máy bay.
Mặc dù bên Hồng quân có quân số đông hơn,
các lực lượng của nó phải dàn trải trên một mặt trận rộng hơn 500km.
Ngược lại, Paulus có thể tập trung lực lượng thành một nắm đấm duy nhất,
sẵn sàng giáng mạnh theo hướng đông về phía Stalingrad và sông Volga.
Người Đức khởi đầu tiến quân trên thảo nguyên sông Đông.
Tại đây, sông Đông chảy theo hướng bắc - nam đến rất gần
sông Volga trước khi rẽ theo phía tây nam, tạo thành một vòng cung dài.
Bên trong vòng cung này là các đơn vị Sô Viết phòng thủ.
Bờ sông Đông dốc đứng, cao từ 25 đến 30m,
khiến việc rút lui rất khó khăn.
Quân Đức đột phá vào đây khiến Hồng quân
bị mắc kẹt ở bờ sông.
Hồng quân chỉ có lựa chọn duy nhất là ở lại và chiến đấu.
Quân Đức bắt đầu tấn công vùng sông Đông ngày 17/ 7/ 1942.
Người Đức dự kiến sẽ nhanh chóng chiến thắng trước một đối phương
mà họ đã đánh bại nhiều lần.
Nhưng sự đề kháng ngoan cường đã khiến trận đánh kéo dài
nhiều ngày hơn so với dự kiến.
Việc kìm chân này đã ngăn chặn sự thành công của toàn bộ kế hoạch tấn công mùa hè của quân Đức.
Nếu quân của Paulus chưa vào Stalingrad được, thì Cụm Tập đoàn quân A
đang di chuyển đến vùng Kavkaz sẽ dễ dàng bị ngăn chặn
bởi các cuộc phản công của Hồng quân.
Tập đoàn quân Xe tăng 4 của tướng Hoth
giờ phải quay lại để tấn công Stalingrad từ phía nam.
Thành phố mang tên Stalin này trở thành tâm điểm của sự chú ý.
Chẳng bao lâu nữa, mọi cặp mắt trên thế giới sẽ đổ dồn vào đây.
Đến cuối tháng 8/1942, Tập đoàn quân 6 Đức đã quét sạch
sự kháng cự của Hồng quân ở phía tây sông Đông.
Những binh sĩ Hồng quân sống sót rút về bờ đông của con sông vĩ đại.
Người Đức bây giờ chỉ còn cách Stalingrad 60km.
Trong khi đó, xe tăng của tướng Hoth tiến đến từ phía nam.
Việc băng qua 150 km thảo nguyên cho phép ông ta
bất ngờ đột kích vào sườn đối phương.
Các đơn vị Sô Viết ở khu vực này là một phần của Phương diện quân Đông Nam,
do tướng Yeryomenko chỉ huy.
Cạnh nhà ga đường sắt bé nhỏ ở tây nam Stalingrad,
họ đã đón bước tiến của xe tăng Đức bằng
hàng loạt tên lửa từ các dàn phóng Katyusha.
Yeryomenko báo cáo cho Bộ Tư lệnh tối cao Stavka:
"Những phi công tôi gửi đi trinh sát chiến trường ..."
"... báo cáo rằng toàn bộ vùng này đang rực lửa."
"... Lửa cháy ở khắp nơi."
"... Tôi kết luận rằng Katyusha đã gây cho địch ở đây nhiều khốn đốn."
Cuộc tấn công xe tăng của Hoth phải khựng lại.
Thành công này đã khích lệ Yeryomenko.
Ông sớm củng cố sự phối hợp hành động giữa Phương diện quân Đông nam
với PDQ Stalingrad trong việc phòng thủ thành phố.
Trong khi đó, Tập đoàn quân 6 của tướng Paulus
chuẩn bị vượt sông Đông.
Phụ đề Việt Ngữ: Duchuy2007 Hiệu đính và dịch bổ sung: Danngoc.
Sáng sớm ngày 21/ 8, hơn 200 xuồng đổ bộ Đức
được đưa xuống nước vào lúc bình minh.
Nhưng các chiến sĩ của Phương diện quân Stalingrad đã sẵn sàng.
Quân Đức đụng phải một hỏa lực dữ dội,
hàng chục xuồng đổ bộ bị chìm.
Nhưng quân Đức đã cặp bờ và thiết lập một đầu cầu
trên bờ đông của sông Đông.
Lập tức một cầu phao được lắp ghép
và quân tiếp viện vội vã vượt qua.
Điểm dừng kế tiếp là Stalingrad.
Stalingrad, trước Cách mạng có tên là Tsaritsyn,
là một trong những thành phố đẹp
và được quy hoạch tốt nhất tại Nga trước WW2.
Những nhà máy mới đã lôi cuốn nhiều thanh niên đến thành phố.
Trong vòng 15 năm, dân số TP tăng từ 85.000 lên 450.000 người.
Bờ kè với những rạp chiếu bóng, quán cà phê và công viên công cộng,
được xem là nơi thanh lịch nhất trên khắp tuyến sông Volga.
Cư dân của Stalingrad đã không được sơ tán kịp thời.
Cho đến tháng 8, chỉ có khoảng 100 ngàn tức 1/5 dân số được sơ tán.
Trưa ngày 23/8, xe tăng của Tập đoàn quân 6
lăn bánh thẳng tới Stalingrad.
Trên đầu chúng là hàng đoàn máy bay gầm thét.
Đám lính vẫy tay chào tiếng còi rú của chúng. (Máy bay Stuka có gắn thêm còi để gây kinh hoàng-danngoc)
Chúng đang bay đến Stalingrad để trút xuống
cuộc ném bom dữ dội chưa từng thấy Ở Mặt trận phía Đông.
Khi còi báo động không kích vang lên,
nhiều người còn cho rằng đó chỉ là diễn tập.
Chỉ khi bầu trời đen lại vì vô số máy bay
và các pháo đội phòng không nhả đạn,
thì người dân mới đổ xô tìm nơi trú ẩn.
Bom trút như mưa xuống thành phố.
Khoảng 80% nhà cửa bị phá hủy ngay trong ngày đầu tiên.
Hầu hết nhà cửa vùng ngoại ô Stalingrad được xây bằng gỗ.
Còn bên trong thành phố có các kho chứa dầu và những bãi gỗ súc.
Thành phố đang bị hun nóng dưới ánh mặt trời tháng 8.
Bom cháy của Đức khiến cả thành phố bùng lên như thuốc súng.
Những dòng xăng dầu cháy chảy tràn về phía sông Volga.
Đầu tiên mặt nước bốc cháy, sau đó các tàu thủy cũng bắt lửa.
Không đoàn số 4 (Luftflotten) của Đức do Tướng Wolfram von Richtofen chỉ huy,
đã thực hiện 1.500 phi vụ trong cái ngày 23/8 đó.
máy bay của Không đoàn này đã thả 1.000 tấn bom
và chỉ mất ba chiếc.
Chỉ riêng ngày hôm đó, ước tính
có 40 ngàn người chết ở Stalingrad.
Hầu hết những người sống sót vội sơ tán khỏi thành phố
Nhưng một số đã chọn ở lại, chia sẻ số phận với thành phố.
Khoảng 4 giờ chiều, xe tăng của Paulus đến được sông Volga
tiếp cận Stalingrad từ phía bắc.
Tất cả những gì người Đức thấy được trong ống nhòm chỉ là lửa và khói.
Dường như không gì có thể ngăn chặn người Đức
xông vào cái thành phố đang bốc cháy này.
Nhưng nỗ lực của họ để chóng vánh chiếm Stalingrad chỉ trong một đợt xung kích,
đã mau chóng bị đẩy lui một cách đẫm máu.
Lập tức, bộ binh và xe tăng của Phương diện quân Stalingrad
tổ chức một loạt đợt phản công từ phía bắc.
Hai tập đoàn quân dự bị cũng đã đến Stalingrad.
Chúng được hợp nhất dưới tay hai chiến lược gia Hồng quân nổi tiếng,
Nguyên soái Zhukov và Nguyên soái Vasilevsky.
Zhukov nói với Stalin: "Đòn phản công chóng vánh của ta..."
"... đã bắt quân địch phải rút lực lượng ra khỏi Stalingrad và quay chúng về phía chúng tôi."
Việc này làm giảm nhẹ tình thế cho Stalingrad,
nếu không hẳn nó sẽ rơi vào tay quân thù.
Cho phép họ có thêm vài ngày trước cuộc tấn công sắp đến.
Stalingrad đã bị bao vây phân nữa.
Tập đoàn quân 62 và 64 bên trong thành phố
đã bị cắt rời khỏi Phương diện quân Stalingrad.
Họ chỉ có thể bổ sung quân hay tiếp tế bằng cách băng qua sông Volga.
Nhưng tình thế của quân Đức cũng khó được xem là lý tưởng,
phải chống đỡ phản kích từ phía bắc
và từ chính bên trong Stalingrad.
Rõ ràng là Hồng quân sẽ không bao giờ
chịu rời khỏi thành phố đổ nát, khi nào họ còn được bổ sung quân
và hàng tiếp tế.
Kế hoạch nguyên thủy của Chiến dịch "Fall Blau" không chú ý mấy
đến việc chiếm Stalingrad.
Paulus nhận được lệnh mới phải chiếm thành phố,
phá hủy các điểm vượt sông, sau đó tổ chức phòng thủ thành phố.
Từ Stalingard, ông ta sẽ bảo vệ sườn cho các đơn vị Đức
tiến chiếm vùng Kavkaz.
Việc chiếm Stalingrad được Bộ Tổng tham mưu Đức (OKH)
trù tính chỉ mất vài tuần.
Nhưng Paulus ít tin vào điều này khi ông ta
đến gặp Hitler tại Führerhauptquartier, sở chỉ huy của Quốc trưởng gần Vinnitsa thuộc Ukraina.
Tập đoàn quân 6 của ông ta
nay không thể bằng được như hai tháng về trước.
Nó đã chịu thiệt hại nặng nề sau những trận đánh gần sông Đông,
và giờ đây Paulus phải gửi
những sư đoàn tinh nhuệ nhất của mình đi bảo vệ sườn trái, trải dài
trên suốt ngã đường từ sông Đông đến sông Volga.
Khi Hitler hỏi ông ta lúc nào
chiếm được Stalingrad, Paulus đã đáp:
"Tôi không thể dự đoán được chính xác ngày nào, xét trên thực trạng ...
"... binh sĩ chúng ta, cũng như sức đề kháng của quân Nga."
"Ngược lại, tôi đề nghị được tăng cường ít nhất ba sư đoàn giỏi."
Tập đoàn quân 6 của Paulus đã được tăng cường.
Giờ đây, Hitler mong chiếm được Stalingrad không chậm trễ.
Tập đoàn quân 62 là đơn vị phòng thủ duy nhất, và là niềm hy vọng cho thành phố.
Nó đã giảm thiểu chỉ còn 1/6 quân số ban đầu
và chỉ còn khoảng 50 xe tăng.
Những xe tăng bị hỏng, không chạy được, nhưng còn bắn được,
sẽ được đào hầm và bố trí thành ụ hỏa lực.
Nhưng thành phố sẽ không cầm cự nổi lâu nếu không được tăng cường đáng kể.
Ngày 9/9, sư đoàn Cận vệ số 13
của Tướng Rodimtsev được gửi đến thành phố.
Ba ngày sau, tướng Vasily Ivanovich Chuikov
được cử làm Tư lệnh Tập đoàn quân 62.
Khi Cách Mạng Nga vừa nổ ra, Chuikov mới 17 tuổi,
và là học viên sĩ quan Hải quân ở Kronstadt.
Năm 19 tuổi ông đã là trung đoàn trưởng trong Nội chiến Nga,
và hai lần được tặng thưởng Huân chương Cờ Đỏ.
Chuikov đến Sở chỉ huy Tập đoàn quân 62 vào ngày 14/9.
Cùng ngày đó, quân Đức mở một cuộc tấn công toàn lực vào thành phố.
Cuộc tấn công của quân Đức đã tìm thấy điểm yếu
trong hệ thống phòng thủ Sô Viết, nơi sư đoàn bộ binh
112 Sô Viết đang phòng ngự.
Các trung đoàn của Sư đoàn này đã bị thiệt hại nặng,
quân số mỗi trung đoàn từ 2.500 nay chỉ còn không đầy 100 người.
Pháo binh của họ chỉ còn
một khẩu bức kích pháo và một khẩu model năm 1902.
Quân Đức chọc xuyên qua sư đoàn đã bị tiêu hao này
và chiếm được điểm cao Mamayev Kurgan.
Sau đó họ hướng đến Volga, với hy vọng
chiếm được điểm vượt sông trung tâm.
Nếu họ thành công, số phận của Stalingrad
hẳn đã an bài cùng ngày hôm đó.
Chuikov ném tất cả lực lượng trong tay vào trận đánh.
Ông phải kéo dãn thời gian đủ cho Sư đoàn Rodimtsev vượt sông.
Tất cả những ai có thể cầm súng đều được tung vào trận.
Với con sông sau lưng họ và tuyên bố của Chuikov: "Không còn chỗ nào..."
"... cho chúng ta ngoài sông Volga." Mọi người đều hiểu, đây là một trận đánh quyết tử.
Giờ đây, quân Đức đã giành quyền kiểm soát phía nam thành phố,
và cắt rời TĐQ 62 của Chuikov với TĐQ 64 của tướng Shumilov.
Thời điểm quân Đức chiếm kho ngũ cốc lớn của thành phố
được xem là một bước ngoặt.
Đích thân Paulus chọn kho ngũ cốc này làm biểu tượng
trên huy hiệu chiến thắng cho binh sĩ của mình.
Nhưng quân Đức đã chuẩn bị chiến thắng hơi sớm.
Sư đoàn của Rodimtsev chuẩn bị vượt sông vào ban đêm.
Đội hình của họ được trang bị để chiến đấu trong thành phố.
Họ thay súng trường nòng dài bằng khẩu tiểu liên ưa thích và súng chống tăng.
Khi quân Đức quan sát phát hiện trên sông có sự chuyển quân,
họ gọi pháo binh dội vào thuyền bè và binh sĩ,
khiến nhiều người chết đuối,
những ai đến được bờ, ngay lập tức xông vào chiến đấu.
Quân Đức đã chiếm được bờ sông cao và có tầm quan sát hoàn hảo
so với lính Sô Viết khi họ vào bờ.
Trận đánh mau chóng chuyển thành cận chiến với lưỡi lê,
báng súng và cuốc xẻng.
Bằng trận đánh khốc liệt đẫm máu, Hồng quân đã tái chiếm bờ kè
và Phân xưởng xay 4 mà từ đó nhìn thẳng xuống điểm vượt sông.
Với kết quả tái chiếm này,
cuối cùng, việc vượt sông lại được đảm bảo.
Rodimtsev thành công trong việc đẩy lui quân Đức
và tái chiếm nhà ga xe lửa.
Binh lính của ông đã tái chiếm Mamayev Kurgan ngày 19/ 9.
Cùng ngày, Bộ Tư lệnh Tối cao Stavka ra lệnh cho
Phương diện quân Stalingrad tấn công để kết nối với các đơn vị phòng ngự thành phố.
Nó đã bị quân Đức đẩy lui.
Nhưng các đơn vị quân Đức rất cần thiết đã bị kéo khỏi trận đánh trong thành phố.
Trận chiến trong thành phố đã diễn ra suốt hai tuần, hầu như không ngừng nghỉ.
Ngày 27/ 9, Paulus tung ra một đợt tấn công khác.
Nhiệm vụ của Chuikov là quyết giữ thành phố và khu nhà máy ở trung tâm.
Nhưng thành phố đã ngốn binh sĩ của ông với một tỷ lệ đáng sợ.
Những người sống sót sau một thời gian
đã học được chiến thuật mới trong cảnh đô thị đổ nát này.
Trớ trêu thay, chính quân Đức, khi ném bom
phá sập thành phố đã làm hỏng chiến thuật của mình.
Xe tăng, thứ vũ khí gây sốc của quân Đức đã nhanh chóng
bị kẹt giữa những núi gạch vỡ,
và bị Hồng quân sau mỗi góc nhà ném chai cháy "Molotov cocktail".
Máy bay ném bom Đức ngày càng khó tìm ra mục tiêu trong thành phố hơn.
Từ trên trời, hầu như không thể phân biệt được giữa Đức và Nga.
Máy bay Heinkel vốn kém chính xác,
nay rải bom thành vệt dài cả trăm mét.
Để làm giảm thêm ưu thế trên không của quân Đức,
Chuikov ra lệnh cho binh lính của mình
càng áp sát kẻ thù càng tốt.
Khoảng cách giữa Hồng quân và các vị trí quân Đức
bị giảm xuống chỉ còn vỏn vẹn hơn 10 mét.
Điều này đã khiến những chiếc Heinkel bị vô hiệu hóa
ném bom kẻ thù mà cũng có thể làm hại chính binh sĩ phe mình.
Đức quay sang dùng loại cường kích bổ nhào Junkers Ju-87.
Máy bay này chính xác hơn nhiều
so với các loại máy bay ném bom khác.
Trong Trận Stalingrad, các máy bay cường kích bổ nhào Đức và tổ lái
của chúng phải hoạt động liên tục đến kiệt sức.
Một phi công Đức đã phải bay 228 phi vụ chỉ trong ba tháng ở
Stalingrad, với số giờ bay
ngang với ba năm bay trước đó của mình.
Theo lệnh của Chuikov, toàn bộ pháo tầm xa đầy uy lực của Tập đoàn quân 62
được bố trí trên bờ đông sông Volga,
nơi ít bị máy bay Đức đánh phá.
Đám trinh sát pháo binh thì ở lại trong thành phố,
chốt trên tầng thượng các tòa nhà cao tầng.
Khi họ phát hiện được mục tiêu tốt, chẳng hạn như các đơn vị Đức
đang tập hợp tấn công, quan trắc viên sẽ dùng radio
hoặc điện thoại để điều chỉnh pháo binh bắn vào vị trí địch.
Thành phố trở thành cảnh quan lý tưởng để hai bên bắn tỉa.
Hầu như không thể di chuyển trong thành phố, ngoại trừ trên những bức tường đổ.
Chuikov đã lệnh cho tất cả các sĩ quan chỉ huy
đến sát cánh bên binh sĩ trên chiến tuyến
để khích lệ tinh thần của họ.
Ông cũng ra lệnh
thành lập các nhóm đột kích từ những đại đội bộ binh.
đây là những đơn vị chiến thuật rất hiệu quả được phát triển
để chiến đấu trên đường phố.
Một nhóm đột kích gồm khoảng 20-30 người, hầu hết là lính có kinh nghiệm.
Vũ khí chính của họ là súng tiểu liên, lựu đạn,
dao và xẻng mài sắc.
Nếu có thể, cả nhóm được hỗ trợ bởi một khẩu
pháo chống tăng, một xe tăng, súng chống tăng nòng dài hoặc
súng phun lửa.
Nhóm đột kích được tự quyết định khi đảm nhận những nhiệm vụ
nguy hiểm nhất như tấn công vào các tòa nhà địch chiếm giữ.
Một chiến thuật ưa thích là dùng súng chống tăng
bắn thủng một lỗ vào tường.
Sau đó, ném vào vài quả lựu đạn,
rồi những chiến sĩ sẽ xông vào sau tiếng nổ.
Tầng trệt sẽ được quét sạch bằng lựu đạn và súng phun lửa.
Trước khi xông vào phòng, đầu tiên, người lính sẽ ném một quả lựu đạn,
sau đó tiến vào quạt súng tiểu liên.
Một vài tòa nhà phải giành giật từng tầng.
Nhóm đột kích Sô Viết có khi chiếm được tầng trệt còn tầng trên vẫn trong tay đám lính Đức phòng thủ,
và một số lính Sô Viết khác sẽ đánh từ tầng thượng xuống.
Giáp lá cà đã thành chuyện phổ biến trong các trận đánh.
Đây có vẻ là một lĩnh vực mà lính Hồng quân
có lợi thế tâm lý hơn người Đức.
Quân Nga thích mài sắc
dụng cụ đào hào khiến rất chúng đáng sợ.
Một số tòa nhà được biến thành pháo đài,
và được bắn yểm trợ từ các tòa nhà kế cận và đường phố.
Chiều tối ngày 27/9, thượng sĩ Yakov Pavlov được lệnh
dẫn một đội tuần tiễu tiến vào tòa nhà chung cư "Hiệp hội người tiêu dùng",
nằm cách tiền duyên Hồng quân 100m.
Tòa nhà là một điểm quan trắc lý tưởng.
Đám lính của Pavlov tấn công và chiếm được tòa nhà.
Khi quân Đức nhận ra thiệt hại, họ tổ chức phản công dữ dội
và đụng phải hỏa lực đáp trả mạnh mẽ.
Phần còn lại của tòa nhà "Hiệp hội người tiêu dùng" này
sớm có một tên mới. Tất cả các báo cáo chính thức và mệnh lệnh chiến đấu
bắt đầu gọi nó là "Ngôi nhà Pavlov".
Những lối đi ngầm được đào để nối với
với các nhà máy và những khối căn hộ lân cận,
cho phép quân tiếp viện đến tòa nhà một cách an toàn.
Những lỗ thủng được đục để làm hỏa điểm
và mọi lối dẫn vào tòa nhà đều sớm được cài mìn.
Trong một căn hộ, lính Sô Viết tìm thấy một máy hát bị bỏ lại,
nhưng chỉ có một đĩa hát còn nguyên vẹn.
Họ đã chơi nó liên tục. Trong khi ngưng chiến,
âm nhạc bồng bềnh trên đống đổ nát,
được cả quân bạn lẫn kẻ thù cùng nghe,
trong khi trận chiến tuyệt vọng giành giật "Ngôi nhà Pavlov" vẫn tiếp tục.
Sở chỉ huy TĐQ 62 của Chuikov được chuyển đến
khu vực trống gần một số bể chứa dầu khổng lồ.
Khi quân Đức phát hiện ra, họ bắt đầu pháo kích vào đây,
cả hai bên đều nghĩ những bể chứa này đã trống.
Nhưng chúng bắt đầu nổ bùng lên thành những quả cầu lửa khổng lồ,
tạo ra một cú sốc khó chịu với tất cả mọi người.
Những dòng dầu cháy chảy về phía Sở chỉ huy Chuikov
nhưng họ đã thoát chết như nhờ phép màu,
chỉ có đường dây điện thoại của họ bị thiêu rụi.
Chuikov mắc kẹt trong cái bẫy địa ngục này mất ba ngày.
Tướng Yeryomenko bên bờ đông Volga không biết
Sở chỉ huy Chuikov đang ở đâu,
hoặc Chuikov còn sống hay đã hy sinh.
Cuối cùng, ông nhận được một tin nhắn của Chuikov.
"Có thể thấy chúng tôi ở nơi khói lửa dày đặc nhất".
Trong khi Sở chỉ huy TĐQ 62 đi tìm nơi trú đóng mới
người Đức gây sức ép lên những người phòng thủ thành phố.
Được kêu gọi khẩn cấp, Sư đoàn Dù 37 của Thiếu tướng Viktor Zholudev (sau đó sư này được phong danh hiệu Cận vệ-danngoc)
đã được tung vào.
Ngày 14/ 10, quân Đức mở một đợt tấn công nữa.
Mục tiêu lần này là Nhà máy Máy kéo.
Sư đoàn của Zholudev được giao nhiệm vụ giữ vị trí này,
chống lại cuộc tấn công của ba sư đoàn bộ binh
và hai sư đoàn xe tăng Đức.
Vị sư đoàn trưởng cũng chiến đấu tiểu liên trong tay
sát cánh với các lính dù của mình.
Một sư đoàn mới tinh đang vượt sông đến tăng viện cho họ,
nhưng cho đến khi đó, lính của Zholudev phải giữ bằng được vị trí.
Điểm tấn công kế tiếp của quân Đức Nhà máy "Barrikady" (Chiến lũy).
Chỉ nhờ các dàn Katyusha khai hỏa từ bờ bên kia
mới chặn được đà tiến của họ.
Nhưng ở những nơi khác, quân Đức đã tiến đến sông Volga,
cắt Tập đoàn quân 62 làm đôi.
Không một ai, kể cả Chuikov,
dám tin Stalingrad có thể trụ thêm được nữa.
Ngày 16/ 10, khi chiến trận vẫn diễn ra chỉ cách Sở chỉ huy
của ông 300m, Sư đoàn bộ binh 138 của Liudnikov
đã vượt sông và lập tức lao vào chiến đấu gần Nhà máy Barrikady,
Tuy bị thiệt hại nặng nề, một lần nữa họ đẩy lùi được quân Đức.
Từ Sở chỉ huy của mình, Adolf Hitler
tức điên khi thấy việc chiếm Stalingrad thất bại.
Đài BBC bình luận "Stalingrad đang nuốt chửng quân đội của Hitler."
"Ba Lan bị chiếm chỉ trong 28 ngày."
"Bằng thời gian đó, quân Đức chỉ chiếm được ..."
"... một vài tòa nhà ở Stalingrad."
"Nước Pháp đã bị chiếm trong 38 ngày ..."
"Nhưng bằng thời gian đó người Đức chỉ chiếm được ..."
"... vài con phố Stalingrad."
Người Đức gọi cuộc chiến ở Stalingrad là "Chiến tranh chuột" (Rattenkrieg).
Binh lính chiến đấu trong khoảng cách chỉ từ 10-20m.
Người lính nào tàn nhẫn, khôn xảo, dũng cảm nhất, và quyết tâm
chiến thắng bằng mọi giá, người lính ấy sẽ thắng trong kiểu chiến tranh này.
Ngày 11/ 11, quân Đức đã đến được sông Volga đoạn gần Nhà máy Barrikady,
bao vây sư đoàn Liudnikov và cắt TĐQ 62 làm ba phần.
Sư đoàn 138 hoặc như được mệnh danh là "Đảo Liudnikov",
bám trên một vị trí biệt lập cách sông Volga 200m.
Những phà vượt sông để đưa binh sĩ Sô Viết
và nguồn tiếp tế vào thành phố, phải chịu hỏa lực liên tục.
Giờ đây, sông Volga bắt đầu đóng băng
và tàu thuyền không thể đến thành phố.
Không quân Hồng quân VVS được huy động. Loại máy bay ném bom cánh kép lỗi thời
U-2 được dùng để
tiếp tế bằng đường không.
Những bao thực phẩm và đạn dược đã được cột vào cánh máy bay.
Những sợi dây thừng có thể mau chóng tháo ra để thả hàng xuống đất.
Một phi công nhớ lại: "Người hoa tiêu kéo dây thừng ..."
"... anh ta kéo chúng và kiện hàng rơi bừa xuống đất."
"Tuy nhiên, rượu vodka phải được thả bằng dù."
"Chúng tôi thường bay chậm lại và la lên: "Ivan, vodka đấy"
Dùng những phương pháp tiếp tế sơ đẳng như vậy
sẽ không bao giờ đáp ứng đủ mọi nhu cầu của quân phòng thủ thành phố.
Mùa đông đang đến.
Quân Đức tin rằng phòng tuyến của họ,
trải dài từ biển Baltic đến Volga là an toàn.
Các đồng minh của họ, Romania, Hungary và Ý,
chịu trách nhiệm giữ phòng tuyến vùng sông Đông.
Bộ Tư lệnh tối cao Đức đã không xem xét nghiêm túc về khả năng
quân Sô Viết sẽ tấn công vào khu vực này.
Hồng quân được họ cho là đang trên bờ vực sụp đổ.
Nhưng từ đầu tháng 9, các tướng lĩnh Hồng quân đã bắt tay vào xây dựng một kế hoạch.
Với mục tiêu không gì hơn là tiêu diệt hoàn toàn
Tập đoàn quân 6 của Đức.
Quân Sô Viết dự tính sẽ tấn công về hướng thị trấn Kalach,
Các tập đoàn quân của PDQ Stalingrad cũng đồng loạt tấn công để
hàn kín vòng vây quân Đức.
Chiến dịch có mật danh là Операция «Уран» (Chiến dịch Sao Thiên Vương).
Ba phương diện quân khác nhau tham gia chiến dịch, gồm: PDQ sông Đông
PDQ Đông nam và PDQ Stalingrad.
Chiến dịch đã được nghiên cứu một cách tuyệt đối bí mật.
Đã đến lúc lật ngược tình thế với người Đức.
Đêm ngày 18/ 11, ngay trước cuộc tấn công,
một cơn bão tuyết làm giảm đáng kể khả năng quan sát.
Đích thân Stalin đã lưu ý: "Nếu việc ném bom chuẩn bị không cẩn thận ..."
"... thì chiến dịch sẽ thất bại." (Mất yếu tố bất ngờ-danngoc)
Do hoàn toàn không thể bay trong những điều kiện đó,
cuộc ném bom đã bị hủy bỏ.
Nhưng đã quá muộn để hoãn Chiến dịch "Sao Thiên vương".
Ở khu vực phía Nam, các đơn vị đã vượt sông Volga.
Sáng ngày 19/ 11, vào lúc 0g10 phút,
hàng ngàn khẩu pháo gầm rống khai hỏa, hòa chung với tiếng rít của tên lửa Katyusha.
Việc xác định tọa độ bắn gần như chỉ ước chừng giữa cơn bão tuyết.
Nhưng quân Rumani đã tan tác ngay sau đòn đánh đầu tiên của Hồng quân.
Quân đoàn xe tăng 48 của Đức đã cố tổ chức phản công.
Họ chạm trán mũi tấn công của quân Sô Viết gần làng Ust-Medveditsky.
Một trận đấu tăng quy mô lớn đã diễn ra suốt một ngày,
Kết quả là Quân đoàn Panzer của Đức bị nghiền nát.
Một trong những sư đoàn của nó đã bị trở ngại bởi một kẻ thù không thể tin được.
Trong thời gian sư đoàn đóng dự bị và đậu xe một chỗ,
chuột đồng đã chui vào những chiếc xe này, cắn đứt dây điện.
Kẻ đồng minh khiêm tốn của Hồng quân này đã
khiến hàng chục xe tăng phải bất động.
Cuộc tấn công vào phía Nam Stalingrad của Hồng quân bắt đầu vào ngày hôm sau.
Được huấn luyện kém và trang bị nghèo nàn, Tập đoàn quân 4 Rumani
tan tác trước đòn tấn công bằng xe tăng của Sô Viết.
Các đơn vị của hai PDQ Sô Viết tiệm cận dần từ phía bắc và phía nam
để gặp nhau tại sông Đông.
Thời tiết xấu đã làm chậm bước tiến của họ.
Không thể tìm thấy dân địa phương nào trong các ngôi làng, tất cả đều bị bỏ hoang.
Vào hoàng hôn ngày 22/ 11, một phân đội gồm hai đại đội bộ binh cơ giới, năm xe tăng và
một xe bọc thép đã tiếp cận chiếc cầu
gần thị trấn Kalach.
Việc chiếm chiếc cầu này rất quan trọng đối với sự thành bại của cả chiến dịch.
Lính gác Đức trên cầu không thể tin
xe tăng đối phương có thể xuất hiện sâu trong hậu phương đến vậy.
Khi họ nhận ra sai lầm thì đã quá muộn.
Việc chiếm chiếc cầu này đã cho phép Hồng quân
di chuyển một số lượng lớn các đơn vị qua sông Đông
để bắt tay với xe tăng của Yeryomenkov đến từ phía nam.
Vào ngày thứ tư của Chiến dịch "Sao Thiên vương", các đơn vị của Phương diện quân Stalingrad
đã gặp binh lính của Phương diện quân Đông nam tại gần thị trấn Sovetskiy.
Cái bẫy đã khép kín.
Tập đoàn quân 6 của Paulus đã bị bao vây.
Nhưng chỉ bao vây thôi thì chưa đủ để đảm bảo chiến thắng.
Lực lượng Đức đang bị bao vây không hề hoảng loạn.
Hitler đã nói với Paulus:
"Quân đội có thể tin vào từng hành động của tôi"
"để cung cấp mọi thứ họ cần"
"và phá bỏ vòng vây."
Binh lính Đức đang bị vây
nhận được lệnh phải giữ vững vị trí và chờ giải cứu.
Nhưng trong cuộc họp để truyền đạt lệnh tại Quân đoàn thiết giáp 6, hầu hết các chỉ huy
của Quân đoàn đều muốn đánh phá vây.
Tướng Erwin Jaenecke là người đã mạnh dạn nói ra những gì mình nghĩ:
"Phải Reichenau thì đã không do dự thế này." Lập tức Paulus độp lại:
"Tôi không phải Reichenau!" Paulus đã thắng thế.
Tập đoàn quân 6 sẽ chiếm tổ chức phòng ngự
và chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Thống chế von Manstein được giao nhiệm vụ
giải cứu Tập đoàn quân 6 khỏi tình trạng khó khăn.
Ông ta nhanh chóng tập hợp tất cả lực lượng có sẵn để tấn công,
được dẫn đầu bởi bốn sư đoàn xe tăng.
Chiến dịch có mật danh "Bão mùa đông".
Không phải vô cớ mà Von Manstein được xem là người có tư duy chiến lược tốt nhất
của Đệ tam Đế chế Đức.
Ông ta đã thắng ở đòn tấn công đợt một của mình, khởi đầu tấn công không phải tại nơi thấy rõ
chiến tuyến Đức gần với vòng vây nhất, mà từ hướng tây nam.
Các đơn vị xe tăng của Von Manstein đã chọc thủng vành đai bao vây bên ngoài của Liên Xô.
Hồng quân hoàn toàn bất ngờ.
Stalin, cảnh giác trước việc con mồi có thể thoát khỏi bẫy,
lập tức ra lệnh lực lượng dự bị phải tăng viện
để đối phó mối đe dọa mới này.
Nhưng di chuyển các đơn vị trong cái lạnh băng giá
và giữa cảnh quan hoang tàn là nhiệm vụ không đơn giản.
Một đơn vị báo cáo rằng tàu hỏa không giữ đủ áp suất hơi nước.
Vận tải cơ giới vô dụng vì thiếu nhiên liệu.
Giữ được liên lạc với các đơn vị đang di chuyển phía trước là cực kỳ khó khăn.
Trong lúc đó, quân tấn công của Von Manstein
đánh lui bất kỳ đơn vị nào mà ông ta chạm trán trên đường.
Các đơn vị Hồng quân rải rác và thường là bị cô lập đó,
đã chiến đấu một cách tuyệt vọng để kìm chân quân Đức.
Toàn bộ tiến trình Trận Stalingrad đang như treo lơ lửng.
Tướng Schulz, Tham mưu trưởng của Von Manstein
đã cố thuyết phục Paulus đánh thoát vây khỏi Stalingard
về hướng lực lượng của Manstein.
"Các anh đánh ra càng sớm càng tốt", Schulz nói với Paulus.
"Chúng tôi không thể đợi lâu."
Paulus không còn chắc chắn các đơn vị của mình
có đủ khả năng chiến đấu để thoát vây hay không.
Ông ta càng bi quan hơn khi các đơn vị của Von Manstein
bắt đầu dừng lại và rồi buộc phải rút lui.
Hitler từng hy vọng rằng Không quân Đức Luftwaffe có thể
tiếp tế bằng đường hàng không cho binh sĩ của Paulus.
Nhưng điều đó bất khả thi.
Paulus và Tập đoàn quân 6 thế là tận số.
Chiến dịch tiêu diệt sự đề kháng của quân Đức
tại Stalingrad mang mật danh "Cái vòng".
Trước khi nó bắt đầu, Paulus nhận được một tối hậu thư đề nghị ông đầu hàng.
Nó đã bị khước từ theo lệnh của Hitler
Hồng quân cũng trực tiếp gọi hàng
từng lính Đức thường.
Phi công Không quân Hồng quân, Liashenko
đã làm một công việc không đáng thèm muốn là bay ở độ cao cực thấp
qua chiến tuyến. Những gì mà hoa tiêu của ông ấy, Ovsishcher,
làm là đọc loa tối hậu thư cho binh lính Đức nghe.
Họ thường gặp phải hỏa lực dữ dội từ dưới đất bắn lên.
Những khi như vậy, Liashenko bay khỏi tầm bắn và
lặp lại toàn bộ quá trình ở một nơi khác 15 phút sau.
Một số binh sĩ Đức tin rằng sẽ được nhận thực phẩm
và các tiêu chuẩn khác nếu họ đầu hàng.
Những người khác sợ bị trả thù.
Nhiều người sợ không dám bất tuân mệnh lệnh.
Kỷ luật quân đội vẫn được duy trì bên trong Stalingrad.
Đào ngũ và trộm cắp vẫn bị xử bắn ngay tại nơi họ bị bắt.
Chiến dịch "Cái vòng" bắt đầu vào ngày 10/1, giữa đợt pháo bắn chuẩn bị dữ dội.
"Cái túi" quân Đức ban đầu kích thước khoảng 60km x 40 km.
Giờ quân Đức bị đẩy lùi về phía Đông
đến sông Volga và chui vào Stalingrad.
Sau bốn ngày chiến dịch,
quân Đức buộc phải rút khỏi sân bay chính của họ ở Pitomnik.
Đây là một thảm họa.
Đã xảy ra những trận ấu đả để giành chỗ
trên chiếc máy bay Đức cuối cùng rời khỏi.
Những người bị thương bị bỏ quên, những người đáng được lên nhất
bị huých gạt ra ngoài.
Cách duy nhất tiếp tế cho đội quân của Paulus bây giờ
là bằng dù.
Nhiều binh lính giờ đây đã hoàn toàn thờ ơ
tê dại vì đói và lạnh. Họ chỉ sống lại khi nghe thấy âm thanh
của máy bay vận tải trên đầu.
Thực phẩm đã trở thành mối quan tâm duy nhất của họ. (Nhạc nền bài Lili Marleen-danngoc)
Ngày 24/ 1, Paulus gửi một tin nhắn radio đến Hitler,
kết thúc với câu:
"Tập đoàn quân xin phép được đầu hàng ngay lập tức ..."
"... để cứu mạng những binh sĩ còn sống."
Quốc trưởng vẫn cứng rắn: "Tôi nghiêm cấm đầu hàng."
Ông ta trả lời: "Quân đội phải giữ vị trí ..."
"... cho đến người lính cuối cùng và chiến đấu đến phút cuối cùng."
Đà tiến của Hồng quân cắt "cái túi" Đức thành hai phần.
Phần phía nam kẹt trong trung tâm thành phố.
Phần phía Bắc nằm trong khu vực các nhà máy.
Sở chỉ huy của Paulus nằm trong "cái túi" phía Nam.
Cuối cùng, sự khổ sở của binh lính đã buộc ông ta phải hành động.
Ông ta đã đầu hàng vào sáng 31/1 cùng với ban tham mưu của mình.
Nhóm phía bắc, dưới sự chỉ huy của tướng Karl Strecker,
tiếp tục chiến đấu một thời gian nữa.
Sau khi pháo binh Liên Xô tấn công dữ dội,
họ cũng hạ vũ khí vào ngày 02/ 02/ 1943.
Việc đầu hàng cuối cùng ở Stalingrad
dẫn đến việc 91.000 quân Đức bị bắt làm tù binh,
họ đã bị phá hủy 6.000 pháo và cối.
1.000 xe tăng,
và hơn 60.000 xe tấn công các loại.
Thảm họa của Tập đoàn quân Paulus
và hai tập đoàn quân Rumani làm người Đức choáng váng.
Đó là thất bại lớn đầu tiên của họ trước quân Sô Viết.
Trên Mặt trận Đông, Bộ Tư lệnh Tối cao Stavka
tổ chức một cuộc tấn công toàn diện vào lực lượng Ý và
Hungary dọc theo sông Đông.
Quân Đức bắt đầu cắm đầu rút lui khỏi vùng Kavkaz
để tránh bị chia cắt.
Hitler không bao giờ đến được vùng mỏ dầu ở Baku.
Tất cả những chiến thắng mà người Đức giành được ở miền nam này đều mất trắng.
Cuộc phản công mùa đông của Sô Viết chỉ dừng lại vào tháng 3/ 1943.
Trong số nhiều thị trấn và thành phố được Hồng quân giải phóng,
là thành phố Kursk.
Chính tại nơi đây, trận đánh vĩ đại kế tiếp sẽ diễn ra.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.