Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Czech
Danish
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
Thợ mỏ đẩy giới hạn chịu đựng để tới các vỉa vàng.
Nhưng với các nhà khoa học, ở đây còn điều thú vị hơn.
Một thứ hoàn toàn bất ngờ.
Các sinh vật sống.
Hậu duệ trực hệ của sự sống đầu tiên trên Trái đất.
Phần giao giữa lớp đá bên dưới của lớp vỏ với lớp trung gian...
là thế giới bí ẩn gọi là Moho.
Thật thú vị, ở bờ biển Coverack này,
ta có thể thấy cả hai loại đá đó.
Ở đầu bên này là đá ở đáy lớp vỏ
còn đâu bên kia là đá ở lớp dưới tiếp,
tức lớp trung gian.
Đáy biển - ranh giới giữa đáy lớp vỏ đại dương và lớp trung gian bên dưới,
thông thường là nằm ngang
Điều đặc biệt ở bờ biển Coverack là tất cả bị nghiêng hướng tây bắc,
khoảng 30 độ.
Điều đó có nghĩa là tôi có thể thám sát
từ phần dưới của vỏ ngoài, đi qua phần Moho,
và đến lớp trung gian phía dưới.
Ở tây nam của bãi biển Coverack là đá từ lớp trung gian.
Những hành tinh khác lại đem đến hy vọng cho Trái đất.
Chẳng hạn như sao Kim.
Lõi của nó không tạo ra được từ trường,
nhưng bằng cách nào đó hành tinh này vẫn có khí quyển.
Vận tốc quay của sao Kim chậm hơn Trái đất 200 lần.
Vì quá chậm nên không hình thành các cột xoáy tạo từ trường.
Tốc độ quay quanh trục của nó rất chậm,
và bởi không chỉ cần nhiệt tỏa ra để tạo từ trường,
mà cần có cả tổ chức dòng kim loại lỏng
trong phần lõi kết hợp với nhiệt nữa.
Không có lõi hoạt động, bằng cách nào mà sao Kim lại giữ được khí quyển?
Và làm sao tự vệ được trước bức xạ mặt trời?
Các nhà khoa học nghĩ rằng,
chính sự tương tác giữa gió mặt trời và khí quyển của sao Kim...
có thể mang lại câu trả lời.
Ở Trái đất, gió mặt trời tạo ra cực quang...
khi các hạt tích điện bên trên tầng khí quyển giải phóng năng lượng.
Người ta cho rằng ở sao Kim, gió mặt trời tương tác theo cách khác,
nó tích điện toàn bộ lớp khí quyển bên trên.
Điều đó tạo ra một cấu trúc dạng plasma,
một dạng từ trường bảo vệ toàn bộ hành tinh.
Sao Thủy, hành tinh gần Mặt trời nhất
lại có những bí ẩn khác.
Hành tinh nhỏ này đáng lẽ đã tỏa toàn bộ nhiệt vào không gian,
và đông cứng từ lâu.
Nhưng lõi của nó vẫn còn nóng.
Từ trường vẫn còn mạnh.
Có cái gì đó khiến lõi vẫn nóng.
Và giới khoa học cho rằng, đó chính là Mặt trời.
Có thể là do nằm gần Mặt trời,
nên có sự chênh lệch về nhiệt độ
giữa mặt được chiếu sáng và mặt không hướng về Mặt trời.
Sự chênh lệch nhiệt độ này có thể tạo ra dòng điện...
từ đó tạo ra từ trường mà ta thấy và không giải thích được.
Vậy những điều này có ý nghĩa gì với Trái đất?
Phải chăng lõi Trái đất sắp chết?
Ta biết gì về Trái đất ta đang sống?
Quả bóng xoay khổng lồ bằng đá.
Thực tế là một điều bất thường...
đang diễn ra sâu trong Trái đất.
Các thế lực mạnh mẽ, các quá trình bí ẩn...
đang diễn ra bên dưới chân ta hàng ngàn kilomet.
Không có chúng, cuộc sống trên Trái đất không tồn tại.
Bí ẩn sự sống trên Trái đất nằm sâu bên trong.
Để hiểu cách thức và lý do, chúng ta cần mở Trái đất ra,
và đi xuống tận tâm Trái đất.
Một thế kỷ trước,
cuốn "Hành trình tới tâm Trái đất" của Jules Verne...
thu hút trí tưởng tượng của cả thế giới.
Thực tế, đó là chuyến đi không tưởng.
Trong tâm Trái đất,
áp suất và nhiệt độ cực lớn.
Chúng làm cho 99% lòng
Trái đất không thể tiếp cận.
Thiết kế 1 thứ để tới Mặt trời...
dễ hơn thiết kế 1 thứ
đi vào tâm Trái đất.
Vì nhiệt độ cao bằng hoặc
hơn nhiệt độ bề mặt Mặt trời.
Nhưng áp lực thì cực lớn.
Vì các nhà khoa học
không thể đi vào tâm tự xem,
họ phải tìm cách khác để hiểu nó.
Không dễ nghiên cứu 1 vật
bạn không nhìn hay sờ được.
Ta có thể thấy bão ập đến,
trong thời tiết hình thành bão lớn xuất hiện.
Các thế lực dự báo được đến
vì ta quan sát được khí quyển.
Ta không thể làm vậy với tâm Trái đất...
vì ta không có thông tin
cụ thể về hoạt động của lõi.
Ta không biết về chuyển động nào trong lõi,
nhiệt độ biến đổi ra sao?
Ta không biết cơn bão nào đang hình thành dưới đó.
Nhưng Lathrop kiên quyết tìm ra.
Nên ông tự tạo Trái đất của mình...
tại Đại học Maryland.
Chúng tôi đã xây dựng thử nghiệm này được 7 năm.
Cố lập càng nhiều tham số
giống tâm Trái đất càng tốt.
Đó là mô hình cả lõi ngoài và lõi trong của Trái đất.
Thử nghiệm có vẻ điên rồ,
nhưng tìm hiểu tâm Trái đất
vượt xa cả sự hiếu kỳ khoa học.
Sự sống trên bề mặt Trái đất...
phụ thuộc vào các quá trình
diễn ra bên trong Trái đất.
Nếu hiểu rõ chúng,
ta sẽ hiểu hơn
về sự ra đời của sự sống,
cũng như tương lai của nó.
Bằng cách lập mô hình lõi Trái đất,
chúng tôi hy vọng có thể
thăm dò thông tin về các hoạt động...
và tiến tới đạt được ngành khoa học dự báo.
Có thể dự báo điều gì xảy ra
với tương lai của lõi Trái đất.
Lathrop không cô độc.
Các nhà khoa học khắp nơi thăm dò Trái đất...
theo mọi cách để tìm ra
bí ẩn của lõi Trái đất.
Họ nghiên cứu núi lửa,
đo các rung chấn động đất,
để tiến hành chụp X-quang địa chất Trái đất.
Lập các mô hình thử nghiệm phức tạp...
và khám phá thế giới dưới chân ta lạ kỳ và dị thường...
hơn những gì họ có thể tưởng tượng.
Nó đầy những chất quý giá,
các cấu trúc vĩ đại, và những sinh vật kỳ lạ.
Họ thấy sự sống bên dưới
còn đa dạng hơn trên bề mặt.
Nhiều nước hơn tất cả các đại dương.
Dưới này, có cả bão mạnh hơn
cơn bão lớn nhất Trái đất.
Bằng cách nào đó, thế giới bí ẩn bên trong Trái đất...
hình thành nên thế giới của chúng ta.
Nhưng để tìm hiểu cách thức là một thử thách lớn.
Gần như mọi thứ cơ bản
dưới đó có thể đang thay đổi,
có rất nhiều điều
bạn muốn biết về lõi Trái đất,
nhưng bạn không thể biết nếu không tới đó.
Có rất nhiều bí ẩn trong lõi Trái đất,
nhưng không gì mạnh bằng lực hấp dẫn.
Lực hấp dẫn giữ Mặt trăng và
các vệ tinh quay theo quỹ đạo.
Ngay cả ở ngoài này,
nó cũng ngăn các phân tử khí
bay vào không gian.
Lực này xuất phát từ lõi đặc khổng lồ của Trái đất.
Càng tới gần Trái đất, lực càng mạnh.
Lên 100 km, lực hấp dẫn thu đủ khí...
để tạo nên 1 lớp bao bọc Trái đất.
Đây là khí quyển Trái đất.
Nó bảo vệ ta khỏi sao băng, hấp thụ bức xạ nguy hiểm,
và bảo vệ Trái đất khỏi nhiệt độ băng giá của vũ trụ.
Quan trọng nhất,
nó cho ta không khí để thở.
Rất đơn giản, không lực hấp dẫn, không có khí quyển.
Không có khí quyển, không có sự sống.
Có 1 lực tự nhiên nữa bên trong Trái đất...
cũng quan trọng với sự sống.
Ta cho rằng sự sống lấy năng lượng từ Mặt trời.
Đúng vậy, lò hạt nhân của nó làm ấm bầu khí quyển,
kiểm soát thời tiết và làm lương thực phát triển.
Không có Mặt trời, sự sống trên Trái đất sẽ nhanh chóng biến mất.
Nhưng các lực từ lòng đất chiếm 1 vai trò quan trọng...
trong việc tạo ra sự sống ngay từ đầu.
Sự sống tồn tại tới ngày nay là nhờ sự cân bằng...
giữa năng lượng Mặt trời từ bên ngoài...
và năng lượng xuất phát từ bên trong lõi Trái đất.
Dấu hiệu dễ thấy nhất của
năng lượng trong lòng đất... là núi lửa.
Chúng phun qua vết nứt trên vỏ,
vỏ ngoài mỏng của Trái đất.
Lớp này chỉ dày 45 km.
Các núi lửa giải phóng
1 phần nhỏ năng lượng...
bị đè nén dưới bề mặt đất.
Năng lượng bên trong mạnh tới mức...
có thể đẩy lớp đá lên cao,
tạo ra các rặng núi,
như núi Guadepoupe ở New Mexico.
Những lớp này từng là đáy biển bằng phẳng...
trước khi nhiệt Trái đất đẩy chúng lên cao 2.400 mét.
Khi khuấy động và nhô cao,
các khe nứt cho nước chảy vào,
hòa tan vôi mềm bên dưới bề mặt.
Ở New Mexico có các hang Carlbad kỳ vĩ.
Một khoang lớn tới mức có thể
chứa 1 máy bay phản lực lớn.
Với Peter Scholle,
các hang này là 1 khám phá địa chất quý giá.
Ta đang ở 260 m dưới mặt đất...
trong hang thấp hơn của hang Carlbad.
Ta đang ở giữa một đống
thạch nhũ và măng đá.
Hang này có vài kilomet đường đi.
Những hang khác có tới
vài trăm kilomet đường đi.
Ở nhiều trường hợp, có cả sông chảy qua chúng,
dài hàng chục tới hàng trăm kilomet.
Thạch nhũ kỳ dị chĩa xuống,
còn măng đá hướng lên...
được nước tạo ra trong suốt hàng ngàn năm.
Hành trình từ mặt đất tới lõi...
tiết lộ nhiều bất ngờ
khi ta xuống càng sâu.
Bên dưới lòng đất rất lạnh, tối và có vẻ đầy chết chóc.
Rất nhanh chóng, mọi thứ thay đổi.
Càng đi vào sâu hơn càng ấm và nóng.
Điểm dừng tiếp theo là 1 hang bí ẩn...
bên dưới sa mạc Mexico.
Năng lượng trong lòng đất có thể làm điều này.
Dài gần 12 mét, đây là các
tinh thể lớn nhất thế giới.
Chúng là tàn tích của
1 hồ ngầm giàu chất khoáng.
Hồ bị biến thành 1 chiếc vạc dầu...
do mắc ma nóng đỏ trào từ dưới lên.
Khi nước nóng ngấm qua vỏ Trái đất,
những tinh thể này phát triển
thành khoáng chất hòa vào nước.
Ngày nay, hốc đá này vẫn nóng tới 120 độ C.
Các nhà khoa học chỉ có thể làm việc 30 phút mỗi lần,
ngay cả đã mặc đồ điều tiết nhiệt độ.
Lõi Trái đất không thích hợp với con người.
Áp lực và nhiệt độ rất cao.
Trước đây, khi vào mỏ,
họ thấy càng vào sâu càng nóng.
Do đó lòng đất khắc nghiệt
lại hấp dẫn ta...
hơn mặt đất dễ chịu ta đang sống.
Nhưng năng lượng lòng đất
không chỉ tạo núi và hang động.
Thập niên 60,
các nhà khoa học phát hiện
nó có thể dịch chuyển lục địa.
Vỏ Trái đất tạo thành từ 7 khối lớn gọi là mảng.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy
các mảng này đều dịch chuyển.
Ở một số nơi, chúng tách nhau ra.
Ở chỗ khác, chúng lại đâm vào nhau.
Các ngọn núi là địa điểm
diễn ra các vụ va chạm.
Một số còn rất đẹp.
Đây là dãy Alpes, nơi 2 lục địa va chạm.
Các đỉnh núi cao như Matterhorn chứng thực...
quy mô rộng lớn của các lực được giải phóng.
Đó là 1 phần châu Phi nằm trên đỉnh châu Âu.
Mỗi năm, những ngọn núi này cao lên khoảng 0, 5 cm.
Hoạt động này diễn ra suốt hàng trăm triệu năm.
Quá chậm để nhìn thấy.
Trái đất luôn chuyển động.
Các ngọn núi và lục địa trượt quanh bề mặt Trái đất...
do năng lượng từ sâu trong lòng đất.
Nhưng khi lực này tái tạo hình bề mặt đất,
nó cũng hình thành lại sự sống.
Nó có thể thay đổi và biến hóa tiến trình của sự sống.
Bằng chứng là đây,
sâu 2, 5 km trong 1 vỉa than lớn.
Dài hơn 1.100 km và rộng 190 km,
212 triệu tấn than đá.
Tất cả than đá trên Trái đất
là hóa thạch của rừng cây lớn,
từng thống trị bề mặt Trái đất.
360 triệu năm trước, sự sống bùng nổ trên Trái đất.
Từ đó nó ngày càng
đa dạng và phong phú.
Tất cả nhờ các thế lực trong
lòng đất hình thành mặt đất.
Ngược thời gian.
Năng lượng tại tâm Trái đất
đẩy các lục địa lại...
thành 1 dải đất khổng lồ bao quanh xích đạo.
Trên siêu hành tinh này, hay Pangea,
có các đầm lầy trũng và rừng nhiệt đới rộng lớn.
Đây là 1 nhà kính khổng lồ
cho ra đời hàng triệu loài.
Quãng thời gian này gọi là kỷ Cacbon.
Nơi này có các điều kiện giống
Trái đất hàng triệu năm trước,
khu bảo tồn tự nhiên Okeefenokee ở Nam Georgia.
Tiến sĩ Fred Rich tìm hiểu
quan hệ của lòng đất và sự sống.
Có những dải đất rộng ở xích đạo.
Nên bạn phải hình dung vùng đất bằng phẳng này... cao hơn mực nước biển.
Rất nhiều nước, trong vùng nhiệt đới.
Cổ địa lý, điều kiện thời tiết,
khí tượng học nảy sinh...
dẫn đến sự ra đời của rừng...
khác với các rừng từng tồn tại trên Trái đất.
Không chỉ rừng lớn,
thực vật cũng rất khổng lồ.
Cây cối khổng lồ,
một số cây cao tới 20 - 30 mét,
đường kính 1, 5 - 2 mét,
sống khắp vùng đất ẩm rộng lớn này.
Cây cối phát triển tới khi
quá lớn, già và đổ xuống.
Cây to và rừng rậm có tác động
sâu sắc tới bầu khí quyển.
Chúng hút CO2 và thải Ôxy.
Độ ẩm cao,
lượng trao đổi Ôxy nhiều.
Cây cối quang hợp
nên chúng thành máy bơm Ôxy.
Chúng lấy lượng CO2
khá lớn từ không khí.
360 triệu năm trước,
tỷ lệ Ôxy trong không khí
nhiều hơn hiện nay 60%.
Lượng Ôxy cao dẫn đến tác động đáng kể khác...
đối với sinh vật trên Trái đất.
Nó làm cho các sinh vật trở nên cực lớn.
Có những con rết độc dài tới 1, 8 mét.
Gián dài tới 60 cm,
chuồn chuồn to bằng mòng biển.
Chuồn chuồn ở đầm lầy này
rất lớn và nhiều,
nhưng chuồn chuồn kỷ Cacbon
còn lớn hơn nhiều.
Kích cỡ to gấp 3 - 4 lần
dựa trên vết tích hóa thạch.
Thay vì cá sấu,
loài săn mồi thống trị
là những con cóc khổng lồ. Cá sấu bị thay thế bằng
loài lưỡng cư khổng lồ. Lưỡng cư to bằng cá sấu
ở các đầm lầy hiện nay.
Nhưng chúng trông có vẻ khác.
Các loài mới làm thay đổi sự tiến hóa sự sống...
vì năng lượng trong lòng đất tái tạo bề mặt đất.
Giai đoạn kỳ lạ này ra đời trước loài người,
nhưng câu chuyện của nó nằm trong than đá của Trái đất.
Đầu tiên, rừng trở thành than bùn.
Sau đó nó bị ép dưới hàng tấn đá,
tại đó nó bắt đầu khô đi.
Trong quá trình bùn nâu
trở thành than đá,
đầu tiên cần loại bỏ nước.
Trái đất thực hiện việc đó bằng cách giữ lại bùn,
bùn ở dưới đất càng lâu,
nó chịu địa nhiệt càng lâu.
Địa nhiệt tỏa ra từ lòng Trái đất,
bùn càng nén chắc,
nước càng bị đẩy ra nhiều.
Năng lượng lòng đất
định hình lại mặt đất...
giúp sự sống sinh sôi, sau đó lại phá vỡ nó,
và chôn tàn tích ngày càng sâu,
tới khi nhiệt và áp lực biến rừng cổ thành than đá,
tàn tích hóa thạch của 1 kỷ nguyên đã mất.
Sâu dưới lòng đất 4 km. Càng đi sâu xuống,
càng có nhiều thứ quý giá để con người khai thác.
Sâu 4 km, ta đi qua 1 vỉa vàng
lấp lánh đang hình thành.
Chất lỏng sục sôi chứa vàng hòa tan...
sủi bong bóng qua các vết nứt trên đá.
Càng lên cao, nó càng nguội,
cho tới khi vàng hòa tan kết lại thành vỉa.
Lớp vỏ mỏng của trái đất ...
nơi đó là cuộc sống phức tạp, đầy màu sắc, vô hạn.
Bên dưới nó là một nơi không thân thiện, thế giới vô hồn.
Hoặc có vẻ như thế.
Các nhà khoa học đang tìm kiếm sự sống sâu bên trong trái đất.
Đây là 1 phát hiện đáng chú ý. Thực hiện trong các mỏ sâu nhất thế giới.
Đây là vùng Witwatersrands của Nam Phi.
Mỏ sâu tới 4 km dưới lớp vỏ Trái đất.
Dường như chúng kéo dài xuống tận dưới.
Nhưng thực ra chúng chỉ nằm trên bề mặt.
Đây là môi trường khắc nghiệt với con người.
Nhiệt độ 53 độ C, độ ẩm 100% và rất bí.
và cực kỳ chật hẹp.
Mỏ sâu tới mức thợ mỏ
phải xuống thành 2 giai đoạn.
Một dây cáp thang máy trải dài 4 km...
sẽ đứt do sức căng.
Hành trình đi xuống có thể kéo dài 2 giờ.
Như thợ mỏ, các nhà sinh học
từ Đại học Bloemfontein...
có thể bị sốc nhiệt khi họ xuống mỏ.
Nhưng họ không quan tâm tới vàng.
Họ tìm kiếm sự sống.
Lãnh địa của các sinh vật lạ
sinh sôi trong điều kiện này.
Họ tin vi khuẩn có thể là hậu duệ trực hệ...
của các dạng sự sống đầu tiên trên Trái đất.
Dẫn đầu đoàn là giáo sư Derek Litthauner.
Có những nhóm vi khuẩn,
thậm chí có cả nấm
mà chúng tôi chưa biết.
Nhưng phần lớn là vi khuẩn
sống trong đó.
Chủng loại được căn cứ vào
thành phần hóa học của nước.
Nhưng kinh nghiệm cho thấy
ở đây có vài loại độc đáo.
Các nhà khoa học nối vòi nước ngầm cổ...
chảy ra trong quá trình khai thác mỏ.
Nước và vi khuẩn trong đó
vẫn vô sự suốt hàng tỉ năm.
Các loại vi khuẩn này rất mạnh.
Chúng chỉ cần đá, nước và nhiệt độ cao để sống.
Sâu dưới lòng đất,
sự sống rất đa dạng.
Ở vài nơi, có thể tìm ra sự sống,
ngay cả ở độ sâu 10 km.
Chúng cực kỳ phức tạp,
thích nghi cao với môi trường.
Tại đó, chúng sống nhờ những dinh dưỡng trong đá.
Đây là phát hiện phi thường...
làm thay đổi nhận thức
về nguồn gốc sự sống.
Vi khuẩn là loài gần nhất
trong nhóm sinh vật lạ...
sinh sôi ở điều kiện khắc nghiệt...
gọi là vi khuẩn cực trị.
Vào thập niên 60,
các nhà khoa học bất ngờ tìm thấy vi khuẩn...
sống trong các hồ axit sôi sục của Yellowstone.
Sang thập niên 70,
các nhà sinh học tìm thấy sự sống ở 2, 5 km dưới đáy biển...
gần các ống khí dưới đáy biển gọi là các ống khói đen.
Các dạng sống chỉ
phát triển nhờ khí núi lửa.
Nếu sự sống tồn tại ở điều khiện khắc nghiệt đó,
rất có thể có nhiều sinh vật
tồn tại dưới chân ta.
Theo ước tính, các loài vi khuẩn trong lòng đất...
có thể nặng hơn các loài sống trên mặt đất cộng lại.
Nó cũng dấy lên khả năng...
sự sống không bắt đầu từ trên mặt đất,
mà là sâu trong lòng đất.
Sự sống dưới lòng đất
đa dạng hơn trên mặt đất.
Về mặt tiến hóa của sự sống,
phát hiện này gây ngạc nhiên,
vì quan điểm cũ sự sống
bắt nguồn từ các hồ nước...
ấm lặng trên mặt đất
có thể sai hoàn toàn.
Sự sống có thể bắt nguồn từ trong lòng đất.
Nếu sự sống bắt đầu dưới lòng đất,
đôi khi trong lịch sử Trái đất,
nó đã tìm được đường lên mặt đất.
Có lẽ lúc năng lượng trong
lòng đất đẩy lên mặt đất,
nó đã đẩy các loài vi khuẩn cực trị lên.
Hoặc nó bám vào 1 ống khói đen,
một loại thang máy đưa vi khuẩn cực trị lên mặt đất.
Hoặc nổi lên từ các dòng suối nóng,
phun lên từ lòng đất.
Chưa biết sự sống nguyên thủy có thể sống sâu tới đâu,
nhưng để khám phá bí ẩn dưới mỏ sâu nhất...
đã đẩy công nghệ tới giới hạn.
Cách duy nhất để vươn tới độ sâu này là khoan.
Nhưng áp suất và nhiệt làm khó cả mũi khoan tinh vi nhất.
Lỗ khoan sâu nhất...
cũng mới sâu 12 km so với
độ dày 45 km của vỏ Trái đất,
Thập niên 70, Liên Xô chạy đua
khoan sâu nhất thế giới ở Nga.
Mũi khoan rất dài,
nó uốn cong và trải dài như một đoạn chun.
Nhưng độ sâu này mới chỉ
bằng gần nửa lớp vỏ Trái đất.
Mới bằng 1/500 quãng đường tới tâm Trái đất.
12 km tương đương đi từ
nội thành Chicago ra ngoại ô.
Còn 6.400 km nữa mới tới tâm Trái đất.
Tương đương quãng đường từ Chicago tới London.
Các nhà khoa học gặp khó khăn
khi khám phá lớp vỏ Trái đất,
hành trình khám phá của họ vẫn chưa hết.
Họ tìm ra những cách khác để tìm hiểu lòng đất,
trong quá trình đó, họ tìm ra những họ hàng bất ngờ...
với sự tiến hóa sự sống.
với sự tiến hóa của chính cuộc sống.
Sự sống trên trái đất có thể đã bắt đầu sâu trong vỏ trái đất,
nhưng những biến động bạo lực thậm chí còn thấp hơn
đóng một vai trò quan trọng đẩy mạnh cuộc sống
đến giai đoạn tiếp theo của tiến hóa ...
một trong đó sẽ dẫn đến tất cả cuộc sống như chúng ta đã biết.
Đáng chú ý, chúng tôi biết điều này
những tảng đá cổ của lớp vỏ.
Những ngọn núi ở Công viên
quốc gia Karijini ở Tây Úc...
được tạo nên từ đá 3, 5 tỉ năm.
Chúng từng là đáy biển cổ xưa.
Màu đỏ của chúng là do
quặng sắt nằm trong đá.
Nhưng quặng này là bằng chứng của điều rất nổi bật.
Vì quặng này được tạo ra
trong 1 sự kiện quan trọng...
trong câu chuyện cuộc đời Trái đất.
Các dải quặng sắt đỏ từng là các lớp trầm tích.
Chúng chứa dấu tích của các dạng sống nguyên thủy.
Martin Van Kranendonk là nhà địa chất học.
Anh đã dành cả đời nghiên cứu loại đá này.
Mỗi dải đá nhỏ này
chỉ dài bằng móng tay.
Có thể nó đã tích tụ trong 1 năm.
Có thể thấy hàng trăm mét
trầm tích tích tụ...
biểu thị hàng trăm ngàn năm địa chất.
Đây không phải trầm tích bình thường.
Chúng chứa hóa thạch của cấu trúc đá... gọi là đá stromatolie,
được tạo ra từ một số dạng sống đầu tiên.
Các vi khuẩn đơn bào.
Thật khó tưởng tượng nhưng
khối lượng giàu sắt này...
được hình thành từ các vi sinh vật nhỏ bé.
Chúng đã tạo nên các kết cấu
được bảo quản trong đá cổ này.
Đây là ví dụ của đá stromatolie...
được tạo ra từ các cơ quan
đơn bào trong đá 3, 45 tỉ năm.
Đây là hóa thạch cổ nhất trên Trái đất.
Những vi khuẩn này vẫn đang
tạo nên các loại đá đặc biệt...
cách 600 km về phía Tây.
Những ụ đá trông kỳ lạ này là đá stromatolie khổng lồ...
do vi khuẩn tạo nên.
Stromatolie là đá,
nhưng là đá cấu tạo từ
sinh vật sống hay vi khuẩn.
Đá stromatolie
phát triển nhờ mưa đá.
Chúng tích tụ từng lớp từng lớp nhưng rất chậm.
Vi khuẩn cũng tạo ra một thứ khác.
Một thứ khơi mào cuộc cách mạng sinh học.
Ôxy.
Nếu sự sống bắt nguồn dưới lòng đất,
nó có thể đã lên mặt đất...
nhờ một lực đẩy trong lòng đất.
Sau khi lên mặt đất,
các vi khuẩn này tìm cách mới để sản sinh năng lượng.
Không phải từ đá và nhiệt trong lòng đất,
mà từ ánh sáng Mặt trời, quá trình ta gọi là quang hợp.
Một phụ phẩm rất quan trọng
của quang hợp là Ôxy.
Đá stromatolie rất quan trọng.
Chúng giúp sự sống tiến hóa
từ biển lên đất liền...
và hít thở không khí.
Không có Ôxy, sự sống phức tạp
như ta biết không tồn tại.
Nhưng Ôxy cũng làm thay đổi cấu tạo Trái đất,
tạo ra lớp quặng sắt trên vỏ Trái đất.
Lúc đó đa số sắt trên mặt đất bị hòa tan dưới biển,
làm chúng có màu xanh nhạt.
Nhưng Ôxy mới giải phóng liên kết với sắt...
tạo nên Ôxít sắt hay gỉ sắt.
Ôxít sắt rơi xuống đáy biển
và biển chuyển thành màu xanh.
Ôxít sắt tạo nên khoáng sản
chúng ta thấy ở núi Karijini.
Các lớp Ôxít sắt chồng chất tồn tại ở vỏ Trái đất...
là nhờ vi khuẩn nguyên thủy.
Chúng ta chiết được từ quặng
1, 7 tỉ tấn sắt mỗi năm.
Nó cũng rất giàu Ôxy.
Ôxy trong các dải quặng sắt
nhiều gấp 20 lần...
Ôxy lơ lửng trong khí quyển.
Đây là ví dụ cho thấy thế giới của ta...
hình thành từ các lực mạnh
sâu trong lòng đất.
Nhưng các lực này xuất phát từ đâu?
Bây giờ chúng ta vào phần của trái đất
chứa câu trả lời ... lớp phủ.
Đó là một khối lượng năng động của đá phiến
tiếp tục di chuyển bằng năng lượng từ cốt lõi ...
năng lượng của hành tinh
Bên dưới vỏ Trái đất 45 km, giờ ta sẽ đi vào sâu hơn.
Nơi chưa người nào tới được.
Vào lớp trung gian của Trái đất.
Đây là chìa khóa giúp ta
hiểu hoạt động của thế giới.
Khi thấy dung nham chảy,
ta thường nghĩ lớp trung gian là chất lỏng.
Thực ra, nó là lớp đá rắn nóng,
dài gần 3.200 km.
Nó chiếm 80% thể tích Trái đất.
Không gì có thể sống ở đây.
Những gì diễn ra ở độ sâu này... rất quan trọng với sự sống trên Trái đất.
Ta có thể không tới được lớp trung gian,
nhưng đôi khi nó lại vươn tới chỗ ta.
Đá hóa lỏng khi áp lực lên
lớp trung gian giải phóng...
qua các khe nứt trên vỏ Trái đất.
Sự biến đổi lớn về áp lực biến đá thành dung nham.
Lớp đá bên dưới vỏ Trái đất
không thể tiếp cận được.
Nhưng bất chấp khó khăn,
đá trung gian ở vài nơi...
bị đẩy lên mặt đất.
Một trong số đó là bán đảo
Lizard ở mũi Bắc của Anh.
Trên bờ biển yên bình này
là dấu tích 1 hiện tượng lớn mạnh.
Một cục đá trung gian
đã bị vỡ và đẩy lên 50 km...
do chuyển động của vỏ Trái đất.
Với nhà địa chất học Robin Shail,
nơi này rất hợp để nghiên cứu đá trung gian,
chúng thường nằm ngoài tầm với của ông.
So với đá trên mặt đất thì chúng thế nào?
Chúng cho ta biết gì về những thứ trong lòng đất?
Đá ở đây khác hẳn.
Chúng có các màu thay đổi
từ xanh tới cam và vàng.
Đây là đá trung gian đặc thù
khi nó lộ ra trên mặt đất.
Khác loại đá thường mà ta biết,
đá trung gian rất cứng và nặng.
Gần gấp đôi đá granite.
Đó là 1 khối khoáng chất đặc giàu các nguyên tố...
như sắt và magie.
Đây là nguồn đá quý
như đá xanh đặc biệt.
Nhìn cận cảnh, các kết cấu đá lộ ra một thứ...
chỉ có thể hình thành dưới
áp lực và nhiệt độ cực lớn.
Trên mặt đất, đá này có vẻ đủ cứng.
Tuy nhiên ở dưới lòng đất, nó khác hẳn,
một thứ như kẹo mềm.
Khi xem xét đá trung gian, nó có vẻ cứng.
Trái lại, khi đá trung gian ấm lên,
bạn có thể kéo dài và làm nó chảy.
Nó rất quan trọng vì các lớp
đá trung gian mềm này...
cho phép các mảng chồng chất di chuyển từ từ.
Chất rắn chảy được có vẻ kỳ lạ.
Tính chảy của nó rất cần cho sự sống trên Trái đất.
Vì các dòng nhiệt từ lõi đi lên qua lớp trung gian,
các mảng vỏ của Trái đất
có thể di chuyển trên bề mặt.
Không có hoạt động nay, sẽ không có các lục địa,
và các điều kiện sống không bao giờ tồn tại.
Thiếu các vùng này...
giúp các mảng di chuyển trên bề mặt Trái đất,
ta sẽ có một hành tinh chết.
Không có mảng dịch chuyển.
Không có các dãy núi.
Không có các lòng chảo đại dương.
Nên lớp trung gian cực kỳ quan trọng.
Đây là các tảng đá sâu nhất
còn thấy trên mặt đất.
Để nhìn sâu hơn vào lớp trung gian,
các nhà khoa học phải tìm cách khác.
Ở lớp trung gian của Trái đất
nằm dưới hàng trăm kilomet đá,
áp lực cao gấp 50.000 lần
trên mặt đất.
Giống như mang 20 con tàu Titanic trên vai.
Từ môi trường khắc nghiệt này,
một kho báu lớn của Trái đất được tạo ra.
Áp lực đã tạo ra kim cương.
Nó nén cacbon thành khoáng sản
cứng nhất khoa học từng biết.
Nhưng ta không cần đào xuống 160 km để tìm chúng.
Kim cương chỉ nằm sâu dưới mặt đất vài trăm mét.
Chúng bị đẩy lên mặt đất
qua các vụ phun trào tiền sử,
xảy ra do nhiệt lượng bên trong Trái đất tạo ra.
Ngày nay, các thợ mỏ đào các miệng phun này...
để tìm kim cương.
Mỏ kim cương Letseng nằm
trên vương quốc núi Lesotho.
Một đất nước nhỏ giữa Nam Phi.
Kim cương nằm trong đá kimberlite,
bên trong một miệng núi lửa cũ.
Các nhà địa chất của công ty như Claire Palmer...
có nhiệm vụ tìm ra chúng.
Ta đang đứng ở nơi
từng là miệng núi lửa,
mặt đất trước đây
cao hơn ta ít nhất 200 mét.
Chúng tôi đang
khai thác lại nơi đó.
Phần lớn kim cương được đẩy lên mặt đất...
trong các vụ phun trào
núi lửa lớn từ 1 tỉ năm trước.
Những ngọn núi này phun trào với tốc độ siêu âm.
Bạn có thể tưởng tượng sức mạnh bùng nổ của nó.
Tương tự núi St. Helen.
Nhưng núi St. Helen
phun trào rộng khắp mặt đất,
trong khi các vụ phun trào này
lại theo chiều thẳng đứng.
Các vụ phun trào mạnh
đẩy khoáng sản từ độ sâu 160 km...
lên mặt đất trong vài phút.
Hiện nay kim cương nằm trong đá núi lửa này.
Chỉ có một cách lấy chúng ra.
Letseng là một mỏ quý.
Tất cả kim cương được
tìm thấy chỉ trong hơn 2 tuần.
Những viên kim cường này
nổi tiếng về chất lượng cao,
và thu về nhiều tiền nhất trên mỗi cara.
Mỏ kim cương Letseng nổi tiếng
với những viên kim cương lớn.
một trong những viên nổi tiếng nhất là Lesotho Promise,
603 cara, được tìm thấy vào tháng 8 năm 2006.
Nó được bán với giá 12, 4 triệu đôla.
Không phải kim cương đều hoàn hảo.
Một số có những vết nhỏ.
Một viên kim cương hoàn hảo đáng giá nhiều tiền hơn.
Nhưng với các nhà địa chất, các vết này là kho báu.
Đó là những mảnh đá trung gian
nhỏ xíu bị kẹt trong kim cương.
Chúng là các mẫu vật sâu nhất có thể lấy được.
Chúng kể câu chuyện đặc biệt giống như cỗ máy thời gian.
Chúng giữ chìa khóa mở bí ẩn
lịch sử sơ khai của Trái đất.
Từ thành phần hóa học,
họ suy ra...
phần lớn các viên kim cương
đã 3, 2 tỉ năm tuổi.
Họ có thể tính toán chúng hình thành ở độ sâu 160 km.
Các mẫu kim cương từ các nơi khác nhau...
cho thấy khác biệt lớn trong cấu tạo.
Nó chỉ ra lớp trung gian là lớp động khuấy động...
ngay cả ở buổi sơ khai của Trái đất.
Bên dưới 160 km,
rất ít mẫu vật lên được mặt đất.
Nhưng hành trình tới lõi Trái đất chưa dừng lại.
Có một cách khác để biết có gì dưới đó.
Nó như ảnh chụp X-quang của Trái đất.
Họ làm được việc này...
bằng cách phân tích
sức mạnh của động đất.
Động đất là kết quả quá trình
xảy ra trong lòng đất.
Bị lớp trung gian đẩy lên,
các mảng lớn tạo nên bề mặt...
liên tục va đập, chồng chéo lên nhau.
Áp lực tích tụ cho tới khi một thứ bị đứt.
Khi điều này xảy ra, Trái đất rung, nhô lên và lăn.
Hậu quả có thể rất tai hại,
nhất là khi chúng xảy ra ở các khu vực đông dân.
Trận động đất ở Trung Quốc năm 2008...
làm chết 70.000 người, và gây thiệt hại lên tới 150 tỉ đôla.
Các trận động đất lớn là thảm họa,
nhưng chúng cũng là cửa sổ nhìn vào lòng đất.
Các nhà khoa học có thể dùng sức mạnh của động đất...
để tìm hiểu khu vực sâu nhất Trái đất.
Họ dùng hệ thống thiết bị rộng khắp gọi là địa chấn kế,
để dò rung chấn
khi chúng lan qua Trái đất.
Dữ liệu thu được có thể
giúp ta hiểu rõ về lòng đất.
Giáo sư Ed Garnero dùng kỹ thuật này...
để nghiên cứu lớp trung gian, tất cả là 2.900 km.
Khi động đất xảy ra,
các sóng lan truyền ra từ chỗ động đất,
qua Trái đất trong và trên mặt đất...
giống như khi bạn ném đá xuống hồ.
Các vòng trong lan ra
từ điểm ném ngày càng to ra.
Chúng tôi đặt các micro
nhạy cảm trên khắp Trái đất...
ghi lại địa chấn.
Chúng tôi theo dõi thời điểm chính xác nó tới đây.
Nên khi phối hợp các dụng cụ này,
bạn có thể nó gì đó
về khoáng sản, cách di chuyển.
Như bác sĩ dùng sóng siêu âm
để soi đứa trẻ trong dạ con,
Sóng động đất cho nhà khoa học biết về thế giới...
nằm sâu dưới lớp vỏ Trái đất.
Sóng di chuyển và bật lại
khi gặp vật cản trong lòng đất.
Nếu có đủ dữ liệu địa chấn,
bạn có thể mô tả hình dạng
của những vật trong lòng đất,
phản hồi năng lượng địa chấn.
Vì sóng động đất di chuyển khác nhau ở vật liệu khác nhau,
ta biết Trái đất hình thành
từ nhiều lớp như củ hành.
Sóng chứng tỏ lớp trung gian trải dài tới 2.900 km.
Nó giúp ta hiểu sơ qua về điểm đến cuối cùng.
Lõi Trái đất.
Kết quả của Garnero cho thấy hoạt động mạnh...
trong lớp trung gian.
Chúng cho thấy chuyển động liên tục của dòng đá nóng...
qua toàn bộ lớp.
Nó quá chậm để quan sát trực tiếp.
Nhưng tăng tốc lên,
rõ ràng trong hàng triệu năm, lớp trung gian liên tục chảy.
Giống như cây nấm,
các cột thẳng đứng trong hình động...
cho thấy chuyển động đều của tâm Trái đất.
Ta đang thấy mô phỏng
sự chuyển động đối lưu.
Khi chúng lên tới mặt đất, nguội rồi rơi trở lại.
Giống một hồ dung nham,
giọt nước bay lên rồi khi
nhiệt độ hết, nó rơi trở lại.
Đây là chu trình hoạt động
của vật chất từ hàng triệu năm.
Đây là quá trình đang diễn ra ngày nay.
Các dòng đối lưu qua lớp trung gian...
truyền nhiệt từ lõi tới vỏ Trái đất.
Nhiệt điều khiển và đẩy
các mảng lục địa trên mặt đất.
Nhờ đó, năng lượng lớn ở lõi...
hình thành nên thế giới ta đang sống.
Lớp vỏ gồm 2 kiểu mảng,
mảng đại dương và mảng lục địa.
Mảng đại dương nặng hơn nên khi cả 2 va chạm,
mảng đại dương chìm xuống
dưới mảng lục địa nhẹ hơn.
Toàn bộ các mảng vỏ Trái đất
kéo dài xuống gờ lõi Trái đất.
Khi mảng hạ xuống
và kéo nước xuống cùng,
một số trầm tích trên vỏ
vẫn bão hòa nên chìm xuống.
Nước đó có thể nằm trong đá trung gian.
Qua hàng triệu năm,
các mảng đại dương chìm kéo nhiều nước xuống lớp trung gian.
Các nhà khoa học dự đoán dưới lòng đất có nhiều nước hơn.
Gộp tất cả nước
ở biển, hồ, sông băng,
mọi thứ trên mặt đất,
cũng chỉ bằng 2 - 10 hay 12 %...
lượng nước nằm trong lòng đất.
Nếu nước dâng lên mặt đất
sẽ có ngập lụt trên diện rộng.
Sẽ không còn đất liền.
Mực nước biển dâng
cao hơn đỉnh Everest 4 km.
May mắn thay điều đó sẽ không xảy ra.
Nhưng nước ngầm đã
tìm đường quay về mặt đất.
Nước theo các mảng đại dương vào lớp trung gian...
trở nên siêu nóng và quay trở lại mặt đất.
Một sự thay đổi về áp suất hóa lỏng đá trung gian nóng,
hòa với nước đang rút,
dung nham đẩy lên quay lớp vỏ Trái đất.
Tại điểm phun trào, lực của nó rất mạnh.
St. Helen là ngọn núi lửa nổi tiếng nhất nước Mỹ...
nằm ở ranh giới của mảng.
Đá vụn và hơi nước dâng lên
sau vụ phun trào năm 1980...
từng là một phần của mảng nằm dưới Thái Bình Dương.
Có một vành đai núi lửa như núi St. Helen...
quanh Thái Bình Dương.
Nó được gọi là Vành đai lửa.
Mỗi ngọn núi là một điểm,
nơi mảng Thái Bình Dương chìm xuống lớp trung gian.
Chúng ta đang xuống lớp trung gian thấp hơn,
một khu vực ở rìa của hiểu biết khoa học.
Không ai biết trông nó thế nào.
Các nhà khoa học dự đoán các điều khiện khắc nghiệt...
có thể tạo ra các hiệu ứng hóa học kỳ lạ.
Nếu có thể vào lớp trung gian,
bạn sẽ thấy những điều kỳ lạ.
Các chất hóa học mà ta chưa được hiểu hết.
Nhưng có dấu tích của nó.
Bạn sẽ thấy nhiều kiểu xếp lớp.
Như khi đang lái xe, bạn thấy 1 con đường cắt qua,
đá xếp lớp.
Nhưng ở một số nơi, một thứ đan xen vào các lớp.
Các dòng đá nóng dâng lên vỏ Trái đất từ lõi Trái đất.
Nếu bạn sống trên các dòng đá này,
kết quả vừa có tính sáng tạo vừa có tính phá hủy.
Bạn sẽ thấy các ống nước nhỏ tách biệt.
Ta chưa hiểu cụ thể về chúng.
Nhưng chúng có thể có bán kính tới vài trăm kilomet.
Vật chất cực nóng tìm đường lên mặt đất...
và đẩy những thứ chúng ta gọi là núi lửa lên.
Trong ảnh có các cột
vật chất nóng dâng lên bề mặt.
Những thứ trào lên đó cũng là những thứ trào lên...
ở những nơi như Hawaii,
đảo Phục sinh và Kirk Whalen.
Hình ảnh động này tạo từ
những máy dò, các điểm đen này.
Ta thấy sự chậm chạp của vật chất chảy qua...
ranh giới lõi - trung gian
tới khi tìm ra ống để phun lên.
Chúng bắn lên rất nhanh.
Vài núi lửa lớn nhất thế giới,
Yellowstone,
Iceland,
Hawaii,
nằm ngay trên các ống khổng lồ này.
Đảo lớn Hawaii là bằng chứng sức mạnh tái tạo của nó.
Được đo từ đáy biển,
đây là núi cao nhất thế giới,
cao hơn đỉnh Everest 1.200 mét.
Nó được tạo ra từ dung nham
phun ra từ đỉnh của ống.
Mảng bề mặt liên tục di chuyển,
trong khi ống đá trung gian đứng yên,
nên mắc-ma tiếp tục phun qua
lớp vỏ ở chỗ khác,
và để lại một chuỗi các đảo núi lửa đang bừng tỉnh.
Trong khi các ống có sức mạnh
tạo ra chuỗi hòn đảo,
chúng cũng có sức mạnh phá hủy dải đất liền rộng lớn.
Mạch nước và hồ bùn ở Yellowstone... làm du khách thích thú.
Nó cũng chứng tỏ công viên
nằm trên đỉnh ống phun lớn.
Với chiếc hang dài 70 km và rộng 56 km,
đây là siêu núi lửa lớn nhất thế giới.
Nhà địa chất Hank Heasler muốn hiểu hoạt động của nó.
Có nhiều vụ phun trào rất lớn ở Yellowstone.
Ba vụ phun trào lớn:
một vụ cách đây 2, 1 triệu năm.
Đó là 1 trong các vụ lớn nhất
giới địa chất thấy trên mặt đất.
Một vụ cách đây 1, 3 triệu năm, và 1 vụ cách đây 640.000 năm.
Yellowstone không giống núi lửa lắm.
Nó rộng và bằng hơn
do hình dạng dốc của nó.
Yellowstone là 1 ngọn núi lửa lớn.
nên rất nhiều vật chất bị phun trào,
hàng trăm ngàn mét khối
mắc-ma bị đẩy lên không.
Trong khi mắc-ma phun lên,
mặt đất lún xuống
do mắc-ma phun trào tạo ra.
640.000 năm nay,
Yellowstone chưa phun trào.
Nhiệt lượng tỏa ra từ công viên... có thể là dấu hiệu vụ
phun trào tiếp theo đã quá hạn.
Nếu núi lửa Yellowstone phun,
nó sẽ giải phóng hàng tấn tro
và khí vào khí quyển.
Nó sẽ che Mặt trời,
và đưa thế giới vào
mùa đông núi lửa hủy diệt.
Các ống phun là một phần
hệ thống làm mát của lòng đất.
Chúng có thể tạo ra phong cảnh đẹp
và nguy hiểm nhất thế giới.
Vấn đề là cái gì tạo ra ống phun.
Không ai biết chắc
nhưng có 1 điều chắc chắn,
Câu trả lời nằm đâu đó trong cái lò sôi sục...
của lõi Trái đất.
1, 800 dặm sâu trong lòng trái đất
phía dưới chúng ta, chính là lõi trái đất
Lớp lõi ngoài của Trái đất là 1 quả cầu kim loại lỏng...
lớn hơn Mặt trăng.
Các điều kiện ở lõi ngoài
rất khắc nghiệt.
Nhiệt độ hơn 3.000 độ C.
Áp suất cực lớn.
Gấp 1 triệu lần áp suất không khí.
Nếu bạn có thể gỡ bỏ
lớp trung gian để lại phần lõi,
nó rất nóng và tỏa nhiệt mạnh,
rất giống bề mặt Mặt trời,
và cũng nóng như vậy.
Nếu có thể mở không gian
giữa lớp trung gian và lớp vỏ, nó sẽ giống thế này.
Trong lớp trung gian,
kim loại lỏng gặp lớp trung gian.
Có một vùng hình nấm nơi kim loại hóa lỏng...
hòa với những mảnh vật chất
cuối cùng của lớp trung gian.
Trong đó là một đại dương
kim loại lỏng,
nóng đỏ, chảy.
Có chuyển động hỗn loạn
và những thứ tương tự,
mây và những thứ đặc và lỏng hơn...
hòa trộn khi lõi di chuyển.
Các nhà địa chất học biết vẻ ngoài của phần lõi ngoài,
vì các sóng địa chấn bật lại khi gặp bề mặt lỏng của nó.
Nhà khoa học như Dan Lathrop...
đang tìm hiểu những điều diễn ra trong lõi Trái đất.
Bằng cách đo năng lượng điện từ nó tạo ra.
Từ trường của Trái đất.
Nếu xem xét mẫu từ trường
bên ngoài Trái đất,
rõ ràng mẫu từ trường đó di chuyển từ từ...
và từ từ biến đổi cách dễ dàng được mô tả...
bằng sự bốc lên từ 1 kim loại lỏng...
cũng di chuyển và biến đổi từ từ.
Từ trường của Trái đất
được biết đến hơn 1.000 năm.
Qua nhiều thế kỷ, các nhà thám hiểm và thủy thủ...
đã ghi lại chi tiết về Cực Bắc chuyển động từ tính.
Ta biết rằng chim và động vật dùng nó để định hướng...
trong các chuyến di cư xuyên lục địa và đại dương.
Tới thập niên 50,
các nhà khoa học biết một vật bằng kim loại...
có thể sinh từ trường.
Đó là lõi Trái đất.
Dan Lathrop muốn biết từ trường sinh ra như thế nào.
Ông dựng mô hình lõi Trái đất,
một quả cầu đầy kim loại lỏng.
Không phải bằng sắt mà là Natri.
Sắt quá nặng và rất nóng.
Nhưng Natri cũng không hoàn hảo.
Chắc chắn Natri
có ưu và nhược điểm.
Đó là một chất dẫn điện tốt,
dẫn điện rất tốt,
Nó giúp các thử nghiệm giống hành tinh hơn.
Nhược điểm là: nó là chất lỏng phản ứng, dễ cháy.
Nó cháy nhanh trong không khí
và phản ứng mạnh với nước.
13 tấn Natri được bịt kín bên trong,
một quả cầu 3 mét bắt đầu xoay
tái tạo chuyển động Trái đất.
Các lò nung làm Natri tan chảy.
Vài phút sau,
từ trường tràn ra khỏi quả cầu theo mọi hướng.
Đây là thể hiện của sóng.
Thử nghiệm này xác thực cách từ trường Trái đất được tạo ra.
Chịu tác động của nhiệt,
các dòng đối lưu trong lõi...
cùng chuyển động quay của Trái đất...
tạo ra một Dynamo khổng lồ.
Dynamo như một máy phát điện,
nhưng nó chạy nhờ
chuyển động của lõi ngoài lỏng.
Chuyển động hỗn loạn
đối lưu trong lõi,
cùng với từ trường
liên tục tái tạo từ trường.
Nó như chuyển động xoay của máy phát.
Trong trường hợp này đó là chuyển động đối lưu.
Mối quan tâm về từ trường
còn lớn hơn kiến thức về địa chất.
Bởi nó rất quan trọng với sự sống trên Trái đất.
Từ trường bảo vệ ta khỏi kẻ thù nguy hiểm và gần nhất.
Mặt trời.
Một lò phản ứng hạt nhân khổng lồ,
những cơn bão lớn hoành hành trên bề mặt.
Bão đẩy các hạt phóng xạ
nguy hiểm vào không gian.
Đây là gió mặt trời, và Trái đất nằm trên đường đi của nó.
Như viên đá dưới suối,
từ trường Trái đất tách dòng phóng xạ,
làm nó lệch hướng đi quanh Trái đất.
Ta nằm trong vùng
bảo vệ của từ trường.
Sự sống ra đời là do lõi bí ẩn của Trái đất mà nó sống.
Trái đất cần từ trường để
thành 1 hành tinh sống được.
Vì bức xạ Mặt trời tỏa ra...
đi rìa ngoài của bong bóng...
hình thành quanh Trái đất do từ trường.
Nên từ trường mở rộng
1 kiểu lá chắn là quyển từ,
bảo vệ chúng ta và khí quyển khỏi bức xạ.
Nếu không có nó,
bức xạ Mặt trời sẽ liên tục bắn phá khí quyển,
phá hủy khí quyển,
một số tia bức xạ sẽ xuống được mặt đất.
Bên trên các cực 64.000 km,
các hạt mặt trời tích điện
gặp vùng ngoài của từ trường.
Một số bị trệch hướng xuống
cực từ trường của Trái đất.
Tại đó chúng tạo ra ánh hồng tuyệt đẹp lấp lánh trên trời.
Hình ảnh này xuất hiện khi
các hạt đâm vào phân tử khí...
ở tầng khí quyển cao hơn của Trái đất.
Dù đẹp, đây là dấu hiệu
một cuộc chiến dữ dội...
giữa lõi Trái đất và dòng
bức xạ Mặt trời xâm chiếm.
Từ trường bảo vệ ta khỏi các rủi ro khác,
không chỉ từ Mặt trời.
Các tia vũ trụ nguy hiểm chứa các hạt phóng xạ...
tỏa vào không gian.
Dưới Trái đất, ta không biết tới chúng.
Nhưng trong không gian, mọi chuyện lại khác.
Ngày 20 tháng 7 năm 1969,
Neil Armstrong là người đầu tiên lên Mặt trăng.
Đó là 1 trong những thành tựu lớn nhất của loài người.
Khi tới Mặt trăng, Armstrong
và cộng sự Buzz Aldrin...
nhìn thấy các tia sáng nháy trong con tàu Apollo tối đen.
Kỳ lạ, họ thấy cả tia sáng lấp lánh khi nhắm mắt.
Khi trở về Trái đất, họ báo cáo những gì nhìn thấy.
Các nhà khoa học NASA bối rối.
6 năm sau, họ tin các tia sáng này...
là kết quả của tia vũ trụ năng lượng cao...
xuyên qua tàu vũ trụ và mắt phi hành đoàn.
Armstrong và Aldrin
bị nhiễm các tia này,
vì tàu Apollo gần rìa
của tấm chắn của từ trường.
3, 2, 1, phóng tàu Discovery.
Nhiều năm sau đó,
ít nhất 39 nhà du hành...
mắc bệnh đục nhãn mắt,
sau vài năm tiếp xúc bức xạ nguy hiểm này.
Không có từ trường,
ta sẽ gặp nguy hiểm.
Chính lõi Trái đất là người bảo vệ lớn nhất.
Từ trường xuất hiện do chuyển động của lõi,
và sự hỗn loạn của kim loại nóng chảy bên trong nó.
Nhưng làm sao ta biết chuyện gì diễn ra trong lõi?
Peter Olson là nhà khoa học
đã nghĩ ra thử nghiệm...
có thể đưa ra lời giải thích.
Đây là 1 bình nước lớn
nằm trên bàn xoay.
Nó mô phỏng lõi ngoài của Trái đất.
Chúng ta sẽ cho thuốc nhuộm
vào bình nước lớn này.
Ta sẽ biết kết quả
của chuyển động hỗn loạn.
Có một dòng chảy hỗn độn
muốn chìm xuống đáy bình.
Nhưng nó bắt đầu cảm nhận được tác động của lực xoáy,
nó bị xoắn thành xoắn ốc.
Đó là kiểu dòng chảy xoắn ốc ở lõi Trái đất...
mà ta đã nghĩ là rất quan trọng
trong việc tạo ra từ trường.
Các chuyển động bình thường
không có cấu trúc xoắn ốc này.
Nhưng do tác động của chuyển động Trái đất,
sự hỗn loạn ở lõi trở nên xoắn ốc.
Các cột xoắn ốc này có thể
giải thích từ trường Trái đất.
Chúng thể hiện các cột sắt lỏng,
hoạt động giống các cuộn dây trong nam châm điện.
Khi chuyển động cùng Trái đất, chúng sinh ra từ tính.
Bên dưới mặt đất 4.000 km,
có thể có các cột sắt lỏng
cao hàng trăm dặm?
Do kết quả của chuyển động
hỗn loạn của sắt lỏng,
các dòng điện chảy trong lõi.
Từ địa trường trên mặt đất là
kết quả của các dòng điện này.
Không có nam châm thỏi hay nam châm vĩnh cữu...
có tác động đáng kể trong lõi Trái đất.
Từ trường được tạo ra nhờ dòng điện.
Hệ thống hồi đáp tinh vi này
làm cho lõi trở nên yếu ớt.
Thiếu nhiệt hay chuyển động xoay, nó không hoạt động.
Để mô phỏng,
Olson dừng bình lại.
Nước vẫn chuyển động. Nhưng khi chậm lại,
các dòng đối lưu dần mất đi.
Nếu điều này xảy ra trong lõi,
từ trường sẽ mau biến mất.
Bên trong lõi của trái đất,
điều bí ẩn đang xảy ra.
Dòng xoáy kim loại nóng chảy
đang tạo ra một từ trường bao trùm hành tinh.
Chúng tôi phụ thuộc vào từ trường này
để bảo vệ chúng ta từ bức xạ mặt trời chết người.
Nhưng dữ liệu khoa học
cho thấy từ trường đang suy yếu.
Trong thế kỷ trước,
cường độ của từ trường
đã giảm đi gần 10%. Các nhà khoa học chưa lí giải được.
Trong phần lớn lịch sử nhân loại,
từ trường rất mạnh,
Giờ nó đang yếu đi.
Từ trường Trái đất được
nghiên cứu gần 160 năm qua.
Con người đang phát hiện từ trường
đang dần giảm cường độ.
Có một khu vực,
từ trường yếu đi 1/3,
tại Đại Tây Dương,
ngoài khơi Brazil.
Nó gọi là Dị điểm Nam Đại Tây Dương.
Đoạn từ trường đứt gãy
kéo dài 1/4 chu vi Trái đất...
và đang phát triển.
Hàng ngày tại nơi này,
bức xạ vũ trụ tiến gần hơn đến bề mặt Trái đất.
Lớp từ trường bảo vệ ta khỏi bức xạ Mặt trời...
đã yếu đi ở chỗ đó.
Nên nó có hệ quả chủ yếu...
đến phi hành gia và người điều hành vệ tinh.
Nó thực sự nổi cộm...
sau khi tàu vũ trụ vào quỹ đạo dài ngày.
Ví dụ, kính thiên văn Hubble
gặp trục trặc từ lâu...
do đi qua Dị điểm Nam Đại Tây Dương.
Vấn đề lớn đến nỗi...
khi kính Hubble trị giá
hàng tỉ đôla qua đây,
các thiết bị quan trọng thường được tắt đi để bảo vệ.
Gần tâm Trái đất, bên dưới Đại Tây Dương,
còn có 1 sự việc kỳ lạ hơn.
Từ trường ở đây không chỉ yếu đi,
mà còn bị đảo lộn hoàn toàn.
Nếu quan sát vị trí
từ trường ở rìa tâm Trái đất,
từ trường dưới đó đã bị đảo.
Giờ nó sẽ là dấu hiệu...
nếu thứ này sâu và rộng hơn,
ta sẽ bị đảo ngược.
Đảo lộn là sự đổi cực
của lớp vỏ từ trường.
Cực Bắc sẽ trượt xuống Nam,
Cực Nam đi lên phía Bắc.
Đảo lộn xảy ra khi
các cực Nam và Bắc đảo nhau.
Bạn có một thời gian dài
ổn định khi chúng ở 1 hướng.
Rồi đảo lộn xảy ra,
phải mất 1 rất lâu để ổn định ở hướng đối diện.
Sự đảo lộn đã từng xảy ra.
Ta biết vì khi dung nham nguội đi,
nó lưu lại bằng chứng về từ trường của Trái đất.
Tinh thể bên trong dung nham xếp thành hàng với từ trường.
Khi cứng lại, nó tạo dấu tích
về độ mạnh và hướng...
tại thời điểm nhất định.
Nghiên cứu dòng dung nham tiền sử...
cho thấy lần đảo lộn cuối là 700.000 năm trước,
khi các tổ tiên giống khỉ của ta đi trên Trái đất.
Bạn có thể nghĩ nếu từ trường
đã ổn định hàng tỉ năm,
sao nó đột ngột thay đổi?
Nhưng nó có xảy ra.
Ta biết từ trường Trái đất
đã đảo lộn hàng trăm lần.
Ta chỉ không biết bao giờ nó lại xảy ra.
Ta cũng không rõ chuyện gì sẽ diễn ra khi đó.
Từ trường yếu đi và Dị điểm Nam Đại Tây Dương...
báo hiệu ta sắp chịu đợt đảo lộn tiếp.
Có thể nó sẽ xảy ra trong vòng 1.500 năm tới.
Tốc độ suy giảm từ trường khoảng 6% mỗi thế kỷ.
Nó có vẻ không nhiều,
nhưng xét về mặt địa chất, thế là quá nhanh.
Không ai biết tác động của nó
đến cuộc sống trên Trái đất.
Nhưng khi từ trường đảo lộn,
ta không được bảo vệ trong vài tháng.
Bức xạ Mặt trời có thể đâm thủng hệ thống điện.
Đường dây điện của thế giới sẽ bị quá tải.
Cùng lúc, dơi, chim và cá voi
sẽ mất phương hướng,
vì hệ thống tự dẫn đường của chúng bị rối loạn.
Thậm chí tỷ lệ mắc ung thư sẽ tăng...
do bức xạ Mặt trời tấn công ADN của tế bào.
Ta có thể thấy cực quang xuất hiện khắp hành tinh,
kể cả ở các đô thị lớn.
Không ai biết chính xác khi nào đến đợt đảo lộn tới.
Đáp án có thể ẩn sâu hơn,
ở lõi trong của Trái đất.
Đó là nơi bí ẩn, xa xôi,
khó tiếp cận nhất hành tinh.
Ở đâu đó trong thế giới bí mật, thù địch đó,
có lời giải cho tương lai Trái đất.
Lõi Trái đất là khối cầu gồm kim loại cứng...
trôi bên trong lõi lỏng ngoài.
Hàng tỉ Ampe điện đi qua bề mặt của nó.
Nóng hơn lõi ngoài,
tâm của lõi trong gây ra lực lớn...
sau lớp vỏ từ trường Trái đất.
Áp lực lên tâm Trái đất rất cao,
do nó bị đè
bởi rất nhiều vật chất.
Do đó dù rất nóng,
vật chất vẫn ở thể rắn.
Các nghiên cứu địa chấn
cho biết thêm về lõi trong.
Nó đang phát triển từ từ và chắc chắn.
Mỗi năm nó rộng thêm 1 mm,
vì Trái đất mất nhiệt.
Chưa ai thấy tận mắt quá trình này,
nhưng nhà khoa học có thể dùng trí tưởng tượng...
để chỉ ra điều tương tự.
Khi Trái đất nguội dần,
lõi trong mở rộng do sắt kết tinh trên đó.
Ta có thể hình dung ra...
khi nhìn băng kết tinh trên khối cầu lạnh này.
Rất nhiều người nghĩ về phần lõi,
ngồi đó và tranh cãi về bề mặt của nó,
gồ ghề, bằng phẳng, hay xốp?
Ta chỉ biết
khi động đất đi qua đó,
nếu gồ ghề, độ dày của nó
sẽ chưa đến 0, 8 km.
Nhưng vẫn còn rất nhiều khoảng trống...
cho các vùng xốp
hay các lỗ và núi nhỏ.
Ta thực sự không biết bề mặt đó trông thế nào.
Nếu nhìn vào mọi bề mặt...
trên Trái đất và các hành tinh của hệ mặt trời,
chúng đều gồ ghề.
Cả bề mặt đại dương cũng vậy,
nhưng nó có sóng di chuyển.
Do đó, tôi nghĩ
chúng khá gồ ghề và phức tạp.
Độ phức tạp của chúng
đang được tranh luận.
Dan Lathrop tin bề mặt của lõi trong...
được bọc trong các đoạn kim loại nhô ra,
gọi là đá dạng cành.
Chắc hẳn các tinh thể sắt
có bề mặt gồ ghề,
có lẽ đá dạng cành chìa ra,
và cả lõi xếp dạng tinh thể.
Nó là hình cầu gồ ghề,
có các đoạn tinh thể đâm ra,
liên tục phát triển.
Khi lõi nguội đi, đá hình cành phát triển.
Nó báo hiệu nhiệt bị truyền liên tục...
từ lõi trong ra lõi ngoài.
Trái đất đang từ từ
nguội đi từ bên trong.
Khi nào nó nóng hơn ở trong và lạnh hơn ở ngoài,
nó sẽ có các dòng chảy, cuộn xoáy.
Chúng giống chuyển động lớn
hỗn loạn của mây,
nhưng nằm trong kim loại cứng của lõi.
Trao đổi nhiệt là nền tảng cho sự sống trên Trái đất.
Nó nuôi sống lõi ngoài và từ trường Trái đất.
Nhưng nó không kéo dài mãi.
Với hành tinh Trái Đất mất nhiệt mỗi giây, mỗi ngày,
có một điều chắc chắn ...
lõi bên trong sẽ tiếp tục phát triển và nguội đi
Trong tương lai xa,
toàn bộ cốt lõi sẽ nguội cứng lại
Đối với cuộc sống trên trái đất,
hậu quả của việc đó là không thể tưởng tượng.
Lõi trong của Trái đất là 1 nơi bí ẩn,
nóng hơn bề mặt Mặt trời
nhưng lại là kim loại cứng.
Nó tỏa ra nhiệt năng cực lớn.
Cùng lúc đó nó ép mọi thứ
ở quanh với lực rất lớn.
Ta không thể xem hay thử nó.
Làm thế nào nó ở đó? Nó đến từ đâu?
Ta có các manh mối.
Trái đất có chung nguồn gốc với các hành tinh đá khác,
sao Hỏa, sao Kim, sao Thủy.
Ban đầu, sau khi Mặt trời cháy sáng,
trước khi hành tinh ra đời,
các đám mây lớn gồm đá vũ trụ đi quanh ngôi sao mới này.
Những khối đá lõi này
đâm vào nhau với lực rất lớn.
Vật thể càng to lên,
chúng càng có lực hút lớn,
cho tới khi tạo nên hành tinh.
Các hành tinh tạo thành
từ hỗn hợp vật liệu khác nhau.
Các mảnh nặng hơn
rơi xuống do trọng lực,
và tích tụ bên trong Trái đất.
Các mảnh vật chất
tạo nên tâm của hành tinh...
có nhiều quặng sắt.
Nó sẽ chìm xuống,
tạo ra phần lõi đồ sộ cho Trái đất.
Hệ mặt trời đã hoàn thiện và ổn định.
Nhưng quá trình
tạo địa tầng chưa kết thúc.
Các phần còn lại sau khi Hệ mặt trời ra đời,
tiểu hành tinh,
sao chổi, thiên thạch...
vẫn quay quanh Mặt trời và đâm vào Trái đất,
như thứ đã tạo ra
hố sao băng tại Arizona.
Nó hình thành do vụ va chạm 50.000 năm trước.
Với nhà hóa học vũ trụ Meenakshi Wadwha,
ta cần xem xét lực và vật liệu...
tạo nên lõi Trái đất.
Hố sao băng bạn thấy ở đây được tạo...
do va chạm với vật thể,
đường kính khoảng 90-120 mét.
Đó là 1 sự việc bất ngờ và thảm khốc.
Nhiều năng lượng được giải phóng,
khoảng 20 triệu tấn.
Tưởng tượng hành tinh trải qua
hàng tỉ va chạm thế này,
mỗi vụ lại mang đến sắt, kẽm,
và các nguyên tố khác tạo nên thế giới quanh ta.
Chúng cũng mang đến nhiệt năng khổng lồ.
Đây là các khối đá lớn
bắn ra từ hố.
Chúng bị bắn khỏi hố
hàng trăm kilomet,
do hệ quả của cú va chạm.
Vụ va chạm rất lớn,
làm thiên thạch bốc hơi.
Nhưng vài mảnh còn sót lại.
Thiên thạch này là
Canyon Diablo.
Nó rất giàu sắt,
là một phần của va chạm tạo ra hố sao băng.
Tất nhiên rất khó lấy mẫu
từ lõi Trái đất,
nhưng các thiên thạch này...
cho ta manh mối khám phá bên trong hành tinh.
Bạn có thể biết thêm
về quá trình cấu thành lõi...
khi nhìn các thiên thạch giàu sắt.
Nhìn gần có thể thấy cấu trúc
tinh thể của kim loại.
ở ngay tâm Trái đất,
một hành tinh độc nhất Hệ mặt trời.
Điều gì khiến Trái đất đặc biệt?
Nếu các hành tinh đá khác được tạo ra cùng 1 cách,
tạo sao ngày nay chúng khác nhau đến vậy?
Việc xảy ra có thể cho ta biết
về tương lai của Trái đất.
Các nhà khoa học tìm manh mối từ chúng...
để biết thêm về số phận của lõi Trái đất.
Hành tinh họ quan tâm nhất là sao Hỏa,
hàng xóm gần nhất của ta.
Giống Trái đất, nước đã từng chảy trên đó.
Nó có lớp khí quyển dày.
Nhưng đó là chuyện hàng tỉ năm trước.
Ngày nay, nó là sa mạc băng giá.
Phần lớn nước và không khí đã biến mất.
Tuy sao Hỏa có lõi kim loại,
nhưng từ trường của nó rất nhỏ.
Điều kiện này chỉ là tình cờ,
hay sao Hỏa là hình ảnh Trái đất trong tương lai?
Tàu thăm dò sao Hỏa (MGS) của NASA.
Năm 1996, NASA phóng tàu MGS,
với nhiệm vụ giải đáp bí ẩn của hành tinh Đỏ.
Nước Mỹ bắt đầu hành trình
trở lại sao Hỏa.
Trong quá trình đó, giải đáp
vài bí ẩn về hành tinh của ta,
làm sáng tỏ về tâm Trái đất, lõi trong.
Dữ liệu của MGS làm các nhà khoa học kinh ngạc.
Nó cho thấy từ trường sao Hỏa rất yếu,
nhưng vỏ sao Hỏa bị từ tính hóa mạnh.
Nó có ẩn ý rất lớn cho hành tinh của ta.
Giống Trái đất, sao Hỏa từng có từ trường rất mạnh.
Nhưng ở 1 thời điểm, lõi của nó nguội đi, đóng băng,
và từ trường bị phá bỏ.
Vấn đề là liệu nó có xảy ra với chúng ta?
Mario Acuna là nhà khoa học...
chế tạo cảm ứng từ thu dữ liệu của sao Hỏa.
Ông dùng nó để vẽ bản đồ về lớp vỏ nhiễm từ của sao Hỏa.
Ông phát hiện có 1 khu vực không có từ tính.
Điều đó phù hợp với 1 tính chất vật lý đặc biệt.
Chúng tôi quan sát lỗ
rất lớn này trên sao Hỏa.
Nó thực sự là dấu tích
của vụ va chạm lớn,
xảy ra từ rất sớm trên sao Hỏa.
Lỗ này là 1 hố sao băng khổng lồ.
Chắc chắn đá ở đây khác
các nơi khác trên vỏ sao Hỏa,
vẫn chưa bị nhiễm từ.
Nên hố này xuất hiện sau khi
lõi sao Hỏa dừng hoạt động.
Theo các nhà khoa học, vụ va chạm này...
giải phóng nhiều năng lượng.
Nó hóa lỏng lớp vỏ khi va chạm.
Tinh thể trong dung nham nguội đi...
đã ghi lại từ trường
xung quanh, như ở Trái đất.
Nhưng trong lỗ khổng lồ trên sao Hỏa,
các viên đá không có dấu tích bị nhiễm từ.
Khoa học giải thích đó là do
không còn từ trường...
khi xảy ra va chạm.
Hố có kích thước cỡ bằng 1 lục địa được tạo ra 4 tỉ năm trước.
Tức là lõi sao Hỏa ngừng hoạt động...
từ khi hành tinh mới hình thành.
Lần đầu tiên ta có thể tính
thời gian nó ngừng hoạt động.
Sao Hỏa mới hình thành 4, 5 tỉ năm trước,
nên nhiệt hạch chỉ tồn tại
vài trăm triệu năm.
Lý do khiến sao Hỏa chết yểu...
nằm ở kích thước của nó.
Đường kính sao Hỏa chỉ bằng nửa Trái đất,
nên nó nguội nhanh hơn nhiều.
Lõi đông lại
và lá chắn từ trường sụp đổ.
Sự sống trên sao Hỏa không còn.
Hành tinh nằm trơ dưới gió mặt trời.
Khí quyển và nước biến mất.
Từ trường biến mất tác động rất lớn...
đến việc mất nước của sao Hỏa.
Chúng tôi đang tìm nước ở độ sâu 450 mét...
đã biến mất khỏi sao Hỏa.
Trái đất lớn hơn sao Hỏa nhiều.
nên lõi của nó vẫn nóng và hoạt động.
Nhưng bài học của sao Hỏa là điều tất yếu.
Lõi của Trái đất rồi sẽ nguội đi,
đến khi các cột đối lưu của lõi ngoài không còn,
sau đó lớp vỏ từ trường sẽ biến mất.
Không có nó, bức xạ Mặt trời...
sẽ làm bay hơi cả khí quyển và nước.
Trái đất sẽ thành nơi chết chóc, hoang tàn.
Nhưng ta chưa cần lo sợ.
Nhiệt độ rất lớn ở lõi trong
cho thấy còn nhiều thời gian,
có lẽ hàng tỉ năm nữa.
Gần 6.400 km dưới lòng đất,
ta đã đến đích,
trung tâm Trái đất.
Đó là phần nóng nhất hành tinh.
Nhiệt độ đạt 12.000 độ,
nóng hơn bề mặt Mặt trời.
Nó không có trọng lực, khác mọi nơi trên Trái đất.
Nhân Trái đất có lẽ là nơi
khác Trái đất nhất,
trọng lực yếu dần khi đi xuống,
và khi đến tâm Trái đất sẽ không còn trọng lực,
sẽ không còn hướng đi xuống.
Trọng lực bằng 0,
nhiệt độ cao nhất Trái đất,
nó sôi sục, không trọng lực,
áp lực rất cao.
Lực nén của phần còn lại
của Trái đất đều đè lên nó.
Do đó nó vừa khắc nghiệt,
vừa vô cùng kỳ lạ.
Thế giới dưới chân ta
có thể là nơi xa lạ,
nhưng chuyến đi này chỉ ra
nó rất giống thế giới bên trên.
Mọi thứ về nó đều phù hợp.
Trái đất quay đúng vận tốc,
và có kích cỡ vừa đủ...
để nhiệt tỏa từ lõi không quá nhiều.
Kết quả là, ta có từ trường.
Lớp vỏ trung gian di chuyển vừa đủ
để dòng nhiệt đi lên,
cho ta các lục địa để sinh sống.
Trọng lực vừa đủ mạnh...
để giữ khí quyển và đại dương trên bề mặt.
Từ vỏ đến lõi, mỗi lớp, đất đá,
mỗi mảnh đều khớp nhau,
để sự sống nảy sinh trên bề mặt.
Bí mật của sự sống ăn sâu trong
bên trong Trái đất.
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.