Afrikaans
Akan
Albanian
Amharic
Arabic
Armenian
Azerbaijani
Basque
Belarusian
Bemba
Bengali
Bihari
Bosnian
Breton
Bulgarian
Cambodian
Catalan
Cebuano
Cherokee
Chichewa
Chinese (Simplified)
Chinese (Traditional)
Corsican
Croatian
Czech
Danish
Dutch
English
Esperanto
Estonian
Ewe
Faroese
Filipino
Finnish
French
Frisian
Ga
Galician
Georgian
German
Greek
Guarani
Gujarati
Haitian Creole
Hausa
Hawaiian
Hebrew
Hindi
Hmong
Hungarian
Icelandic
Igbo
Indonesian
Interlingua
Irish
Italian
Japanese
Javanese
Kannada
Kazakh
Kinyarwanda
Kirundi
Kongo
Korean
Krio (Sierra Leone)
Kurdish
Kurdish (Soranî)
Kyrgyz
Laothian
Latin
Latvian
Lingala
Lithuanian
Lozi
Luganda
Luo
Luxembourgish
Macedonian
Malagasy
Malay
Malayalam
Maltese
Maori
Marathi
Mauritian Creole
Moldavian
Mongolian
Myanmar (Burmese)
Montenegrin
Nepali
Nigerian Pidgin
Northern Sotho
Norwegian
Norwegian (Nynorsk)
Occitan
Oriya
Oromo
Pashto
Persian
Polish
Portuguese (Brazil)
Portuguese (Portugal)
Punjabi
Quechua
Romanian
Romansh
Runyakitara
Russian
Samoan
Scots Gaelic
Serbian
Serbo-Croatian
Sesotho
Setswana
Seychellois Creole
Shona
Sindhi
Sinhalese
Slovak
Slovenian
Somali
Spanish (Latin American)
Sundanese
Swahili
Swedish
Tajik
Tamil
Tatar
Telugu
Thai
Tigrinya
Tonga
Tshiluba
Tumbuka
Turkish
Turkmen
Twi
Uighur
Ukrainian
Urdu
Uzbek
Vietnamese
Welsh
Wolof
Xhosa
Yiddish
Yoruba
Zulu
ĐỜI SỐNG LOÀI CÓ VÚ Thuyết minh: Sir. David Attenborough Biên dịch: Hoàng Hà (Anabas)
(Tiếng chim và côn trùng)
(Tiếng cành cây gãy)
100 triệu năm trước, những cánh rừng như thế này từng rất phổ biến
Chúng do những loài khủng long thống trị.
những khi loài bò sát khổng lồ chìm vào giấc ngủ, những sinh vật nhỏ bé lại hoạt động nhộn nhịp.
Chúng là những động vật có vú đầu tiên.
Dù có sự khởi đầu khiêm tốn,
con cháu chúng cuối cùng đã ngự trị khắp hành tinh.
Tuy nhiên, sự gia tăng đế chế khổng lồ này
được tạo lập từ chế độ ăn kiêng kỳ lạ nhất.
Phần II: NHỮNG KẺ SĂN CÔN TRÙNG
Những sinh vật rất giống loài có vú đầu tiên vẫn còn tồn tại tới ngày nay -
chuột chù (shrew).
Chúng săn côn trùng về đêm khi hầu hết loài khủng long đang ngủ.
Là loài có vú, chúng có thể sinh nhiệt trong cơ thể nhỏ bé của mình
nhờ đó chúng có thể duy trì hoạt động trong không khí lạnh về đêm.
Việc này tiêu tốn rất nhiều thức ăn,
vì vậy chúng phải ăn gần như liên tục, như loài chuột chù giờ vẫn làm.
Không bao giờ đủ thức ăn với một con chuột chù,
những đối thủ tranh giành quyền săn mồi với sự tàn bạo lạ thường.
(Tiếng rít và kêu)
Kẻ săn côn trùng nhỏ bé này ấn định lãnh địa của nó
khi tìm kiếm thức ăn trong vùng rừng này.
Khi gặp một con cái, nó gần như hung hăng lao tới
như lao vào kẻ thù.
Sau khi kiểm tra sức mạnh của nhau, con cái chấp nhận con đực
không phải như một đối thủ mà như một bạn tình.
Hai tuần sau, những con non ra đời.
Chuột mẹ nuôi chúng trong tử cung,
vì vậy khi ra đời chúng đã tương đối hoàn thiện.
Chăm sóc con là một việc hệ trọng
trong "cấu trúc thành công" của loài có vú, mà rất ít loài bò sát làm được.
Chuột chù mẹ thậm chí cho con uống nước bọt nếu cần thiết.
Quan trọng hơn cả, nó cung cấp cho chúng nguồn thức ăn chỉ có ở loài có vú, sữa mẹ
Nguồn sữa này rất giàu dinh dưỡng tới mức chỉ trong hai tuần
đàn con đã gần đạt kích thước chuột mẹ.
Chúng giờ đã trở thành gánh nặng
cần phải cai sữa, bất chấp sự phản đối của chúng.
Nhưng chuột mẹ không bỏ rơi chúng.
Nó dẫn đàn con ra thế giới bên ngoài.
Những con non có cách riêng để không bị lạc.
Những loài có vú đầu tiên sống cùng thời với khủng long một thời gian dài.
Nhưng cách đây khoảng 65 triệu năm,
khi loài khủng long đột nhiên biến mất,
chúng đã có cơ hội chiếm cứ những môi trường mới.
Ban đầu, chúng vẫn duy trì đặc tính cũ như loài sinh vật nhỏ bé, nhanh nhẹn.
Thực tế, đó là một dạng cơ thể rất linh hoạt,
một trong số chúng, không biến đổi nhiều, đã xuống nước.
Nó cũng săn mồi liên tục như người họ hàng trên mặt đất,
nhưng nó bắt côn trùng theo cách khác hẳn.
Bộ lông chuột chù nước (water shrew) có dầu chỉ cần rũ nhẹ là kiệt nước.
Những chiếc râu dài giúp cảm nhận con mồi dưới nước.
Bàn chân có lông hoạt động như những mái chèo.
Màu sáng bạc lấp lánh là do những bóng khí
bị kẹt trong đám lông khi nó lùng sục săn mồi.
Một con ấu trùng chuồn chuồn đang bám dưới một rễ cây
nhưng bộ râu của chuột chù chưa chạm vào nó, nó đã bỏ lỡ cơ hội.
Nhưng lần này thì không!
Trên sa mạc Namib ở Châu Phi,
một kẻ săn côn trùng bơi theo dấu con mồi,
nhưng chẳng có giọt nước nào trong tầm mắt.
Đó là một vận động viên bơi lội trên cát một con chuột chũi vàng (golden mole).
Không giống nước, cát làm trầy xước và không trong suốt,
do đó, cặp mắt chuột được phủ lớp da lông
đầu nó như một cái nêm bằng da
dùng để dũi xuyên qua cát.
Khi nó dũi, cát sụp xuống phía sau nó
khiến nó không thể tạo thành một đường hầm.
Nên nó không đào xuyên qua cát, mà thực sự như bơi trong cát.
Âm thanh truyền trong cát rất tốt.
Khác với chuột chù, vốn thích nghi với âm thanh tần số cao,
con chuột chũi này phát hiện âm thanh ở tần số rất thấp,
như những rung động nhỏ khi đàn mối tìm thức ăn tạo ra.
(tiếng xào xạc)
Di chuyển nhờ những chân chèo và định hướng bằng âm thanh,
chuột chũi vàng tiến tới con mồi của nó.
Ở Bắc Mỹ, một loài chuột chũi khác có bàn chân giống như chân chèo.
Giúp nó bơi dưới băng để săn côn trùng,
nhưng đó không phải là mục đích chính.
Sinh vật này là một thợ đào hầm một con chuột chũi mũi sao (star-nosed mole).
Bàn chân nó như cái mai đẩy đất sang hai bên
trong khi nó cố gắng định vị con mồi nhờ cái mũi kỳ dị.
Cái mũi có 22 múi thịt.
Mỗi cái chi chít những đầu dây thần kinh
tới mức nó có thể chạm mũi vào một đầu kim tại 600 điểm đồng thời,
giúp nó định vị con mồi nhỏ nhất.
Sống trong đất thay vì cát, loài chuột này mới thực sự đào hang.
Nó xây dựng những đoạn mê cung
tuần tra thường xuyên để ăn bất kỳ con mồi nào rơi xuống.
Chuột mũi sao sống dưới đất, phần lớn ngoài tầm với của kẻ thù.
Tuy nhiên, những loài săn côn trùng khác hay chạy dọc những lối mòn trên mặt đất không được may mắn như vậy.
Một trong số đó định cư ở đây, dưới rừng cây bụi Đông Phi.
Lối mòn nhỏ xuyên qua đám cỏ úa này...
là dấu hiệu cho thấy chủ quyền săn côn trùng trong vùng này đã được xác định.
Để đánh dấu, chủ sở hữu để lại một đống phân của nó.
Vậy con gì đã làm điều đó?
Để tìm hiểu, tôi sẽ sử dụng camera giám sát nhỏ này.
Nếu tôi đặt nó ở đây ...
và phía trước camera đặt một số cành cây chặn lối đi.
Kẻ tạo ra những lối đi này rất khó tính
với một chút may mắn, nó sẽ dừng lại để gỡ bỏ những cành cây
nhờ đó chúng ta có cơ hội chiêm ngưỡng nó.
Đây là hình ảnh tại nơi tôi đặt camera
còn đây là một camera khác trên lối mòn.
Giờ chỉ còn chờ đợi.
Nó là loài chuột chù voi (elephant shrew).
Nó có vẻ không hài lòng!
Bắt đầu rồi. Nó đang dọn lối đi.
Không phải.
Ôi trời! Tôi sợ rằng đã đặt quá nhiều!
Chuột chù voi, còn gọi là "sengi'', luôn dọn quang lối đi vì có lý do của nó.
Nó phải chạy nước rút khi lẩn trốn kẻ thù.
Ngay cả những cành cây nhỏ nhất cũng có thể gây ra cú vấp ngã tai hại.
Chim ó (goshawk) tinh tườm tới mức phát hiện sengi rất dễ dàng.
Tóm đuợc nó lại là vấn đề khác.
Sengi ghi nhớ một bản đồ lối đi trong não bộ,
trong trường hợp khẩn cấp nó có thể nhanh chóng lao tới nơi trú ẩn.
Ngay cả khi vừa chết hụt nó cũng không bỏ ăn.
Giống như mọi loài săn côn trùng,
nó liên tục đốt cháy năng lượng bên trong.
Điều đó đặc biệt quan trọng khi phải cho con non ăn.
Thật kinh ngạc, con sengi này chỉ mới vài giờ tuổi
Hiếm loài có vú nào vừa mới sinh ra đã phát triển hoàn thiện như sengi,
khiến chúng có lợi thế sinh tồn rất quan trọng.
Ban ngày trong rừng cây bụi châu Phi không có nơi ẩn náu.
Những con sengi sinh ra để chạy.
Cảm giác ngon miệng với sữa là không bao giờ dứt,
phát triển với tốc độ như vậy khiến nó ở tình trạng đói triền miên.
Mẹ nó có núm vú gần vai,
giúp nó bú dễ dàng hơn và cũng giúp nó giải thoát nhanh chóng.
Con non sẽ lấy thức ăn thô từ mẹ nó ngay khi ra đời, nếu có cơ hội.
Với sự trợ giúp liên tục từ mẹ nó,
con non này gần như trưởng thành trong vòng một tuần
và có thể chạy nhanh như mẹ nó dọc theo những đường đua.
(Chuông tháp BIG BEN)
Bắt từng con côn trùng tốn rất nhiều thời gian và công sức,
rất ít sinh vật kiếm ăn theo cách này
có thể kiếm đủ ăn để phát triển và duy trì những cơ thể lớn.
Tuy nhiên, một số loài ăn côn trùng, trong buổi bình minh 40 triệu năm trước đây,
đã giải quyết vấn đề đó bằng cách mở rộng khẩu phần ăn của chúng.
một trong số hậu duệ của chúng sống ở đây trong khu vườn của tôi ở London.
Tôi có thể nhử nó ra bằng nhiều loại thức ăn,
chẳng hạn như thịt băm nhuyễn.
Nhím Âu (hedgehog) vẫn còn giữ rất nhiều đặc tính của sinh vật sống về đêm,
nhưng nó quá lớn để lẩn trong đám lá rụng,
khiến nó dễ bị những động vật như cáo tấn công.
Bù lại, bộ lông đã trở thành một chiếc áo choàng đầy lông cứng, nhọn.
Khi cảm nhận có nguy hiểm thật sự, nó có một thủ thuật đặc biệt.
Nó cuộn mình thành một quả bóng gai bất khả xâm phạm như thế này
cho đến khi tin rằng nguy hiểm đã qua.
Một điều chắc chắn khiến một con nhím Âu phải duỗi ra -
một bạn tình tiềm năng.
Nếu bạn ở ngoài trời vào một buổi tối mùa xuân,
bạn có thể may mắn được chứng kiến một cảnh tượng bất ngờ.
Bạn có thể nghĩ rằng lớp gai trên lưng...
là một trở ngại khi tán tỉnh.
nhím Âu thực sự giao phối theo cách truyền thống tự nhiên
bụng áp bụng!
Con đực dũi vào gai con cái, dường như để kích thích nó.
Với nó dường như khá đau đớn.
Vẫn không rõ có phải con cái cụp lông xuống để trợ giúp,
nhưng câu hỏi muôn thủa
"Nhím Âu giao phối ra sao?'' luôn đúng ngay từ đầu.
Tất nhiên câu trả lời là, bằng sự chu đáo tuyệt vời.
Những loài săn côn trùng châu Mỹ thủa sơ khai cũng phải tự bảo vệ mình.
Chúng tự vệ không phải bằng gai nhọn mà bằng bách bọc giáp.
Loài tatu, giống như nhím Âu, trở nên to lớn nhờ mở rộng chế độ ăn.
Khẩu vị của chúng thay đổi theo mùa.
Trái cây vốn dễ kiếm,
nhưng loài tatu chín sọc không quá khó tính
và nhặt bất cứ thứ gì có vẻ ăn được.
(Chim kêu ầm ĩ)
Nó vẫn ăn côn trùng, nhưng loài kiến khiến nó gặp một rắc rối.
Vỏ cứng có thể giúp bảo vệ nó khỏi những kẻ thù to lớn,
nhưng không thích hợp tự vệ chống lại con mồi nhỏ.
Một loài săn côn trùng kỳ lạ ở châu Phi lại không gặp rắc rối như vậy.
Đó là loài tê tê (pangolin)
Những chiếc vảy sừng này giống như gai nhọn của nhím Âu,
được biến đổi từ lông.
Móng chân trước rất lớn, khiến chúng vô tích sự khi đi bộ.
Nó nặng nề di chuyển bằng hai chân sau,
giữ thăng bằng cơ thể nhờ cái đuôi.
Móng chân trước chủ yếu dùng để đào kiến.
Khi làm vậy, nó nuốt chửng cả sỏi.
Sỏi tích lũy trong cơ dạ dày và nghiền vụn những con kiến.
Những tổ kiến nhỏ dưới lòng đất chỉ là đồ ăn nhẹ với tê tê.
Đây mới thực sự là một bữa ăn một tổ kiến đủ lớn.
Có tới hơn một triệu con ở đây.
Tê tê đào xuyên qua vách tổ bằng sức mạnh ghê gớm.
Chỉ những con trưởng thành mới đủ sức mạnh để làm điều này,
nên con non phải sống cùng mẹ chúng,
ăn thức ăn của mẹ nó cho đến khi đủ lớn để tự đào hang kiếm mồi cho mình.
Đàn kiến tức giận ào lên khắp mình kẻ tấn công chúng,
nhưng bộ giáp của tê tê bảo vệ rất hiệu quả.
Cặp mắt nó được bảo vệ nhờ mí mắt dày
mũi và tai có những van đặc biệt ngăn côn trùng cắn.
Xét về kích thước, tê tê có cái lưỡi dài nhất trong số loài có vú,
và có nước bọt dính nhất.
Loài có vú không phải lúc nào cũng có tổ kiến để ăn.
Sự tăng trưởng những loài côn trùng sống theo đàn
60 triệu năm sau khi những loài có vú đầu tiên,
là một bước ngoặt trong quá trình tiến hóa.
Khi đó mối và kiến bắt đầu xây những cái tổ rất lớn,
mỗi tổ có hàng triệu con.
Ở đây có rất nhiều thức ăn khiến những loài ăn côn trùng trở nên to lớn.
Có những tổ mối ở châu Mỹ giống như ở châu Phi,
nên ở đó cũng có những loài ăn mối.
Ở Brazil có loài thú ăn kiến khổng lồ (giant anteater)
lớn nhất trong số chúng.
(Thì thầm) Thị lực của nó rất kém
nó chủ yếu dựa vào thính giác vốn rất nhậy.
Nếu gió thổi từ phía nó, Tôi có thể không quấy rầy nó quá nhiều.
Thực ra kiến và mối không hẳn quá bổ dưỡng,
nên thú ăn kiến phải tìm cách bảo tồn năng lượng,
bằng cách là ngủ 15 tiếng mỗi ngày.
Nó phủ lên chính nó cái đuôi to lớn rậm rạp
để giữ sự mất nhiệt ở mức tối thiểu.
Nó duy trì nhiệt độ cơ thể thấp nhất trong số loài có vú, 32 độ.
Nghĩa là bộ não của nó không thể phản ứng nhanh nhẹn.
Nó không phải là một con vật có phản ứng chớp nhoáng
hoặc quá thông minh,
nhưng bạn không thực sự cần điều đó khi bạn là một thú ăn kiến.
Tôi nghĩ nên để nó yên.
Tổ mối có rất nhiều ở đây hơn bất cứ nơi nào,
nhưng những thách thức phải đối mặt với một kẻ ăn mối cũng đáng kể.
Thú ăn kiến và tê tê có nguồn gốc khác nhau,
nhưng nhu cầu ăn chọn lọc đã định hình chúng theo cách tương tự.
Cả hai đều có móng vuốt lớn.
Những kẻ khổng lồ đều là những loài có vú lớn nhất.
Cả hai đều có cái lưỡi rất dài
thò thụt qua ống miệng tạo nên nhờ hàm răng,
nhờ vậy cả hai gần như có thể uống mối.
Dù nó không có răng, nhưng tôi vẫn phải dè chừng
vì những móng chân trước rất khỏe của chúng
có thể rất nguy hiểm.
Nó có thể cào tung ụ mối này,
và nếu cần tự vệ,
nó sẽ dùng những móng chân trước lớn, cong và siết chặt bạn.
Đã từng có chuyện một xác con báo đốm
được tìm thấy trong vòng tay một con trong số chúng.
Nó chỉ kiếm được vài trăm con mối trong chuyến thăm ngắn ngủi này.
Ngay khi đột nhập vào một gò đất,
cư dân trong tổ phản công mãnh liệt nhằm xua đuổi nó.
Ăn chớp nhoáng như thế vậy có một lợi thế.
Đàn mối sẽ nhanh chóng thay thế những con đã mất,
kế quả là nó có thể thu hoạch đồi mối trong lãnh địa của mình
theo cách luôn đảm bảo có nguồn cung liên tục.
Dù không có trí thông minh nổi bật,
nhưng không ai khai thác tổ mối hiệu quả hơn thú ăn kiến khổng lồ.
Để khám phá nguồn gốc sinh vật kỳ lạ này,
bạn phải tới một nơi rất đặc biệt.
Tôi đang ở gần Messel, nước Đức. Phía sau tôi là một mỏ đá
rất nhiều hoá thạch động vật đã chết cách đây 50 triệu năm,
đó là một giai đoạn then chốt trong lịch sử động vật có vú.
Mặc dù những con vật này từng sống một thời gian rất dài trước đó,
một số khá quen thuộc.
Đây là thú ăn kiến leo cây (tree anteater)
rất giống thú ăn kiến tatu ở Nam Mỹ ngày nay.
Mọi loài ăn côn trùng đều được trang bị thứ này
móng vuốt khổng lồ ở chân trước,
không có răng và cặp hàm liền thành ống
qua đó là một cái lưỡi dài thò thụt.
Giống như thú ăn kiến, tê tê.
Lại một lần nữa, nó có móng vuốt rất lớn và không có răng.
Một lần nữa, nó trông giống hệt
tê tê châu Phi ngày nay.
Tại sao những con vật này không thay đổi suốt 50 triệu năm?
Những khối đá của Messel đã giải đáp điều đó.
Ở đó có hóa thạch một con mối
rất quan trọng, mối chúa của một tổ mối -
và nó giống hệt
như họ hàng của chúng ngày nay ...
và đó chính là chìa khóa.
Nếu loài mối không thay đổi trong suốt 50 triệu năm,
tại sao loài ăn mối phải thay đổi mô hình vốn đã hoàn hảo?
Thời đó, phần lớn côn trùng sống trong không trung...
ngoài tầm với của động vật có vú mặt đất.
Một loài có vú theo sau những loài côn trùng bay vào không trung,
hóa thạch của nó được được tìm thấy trong những lớp trầm tích ở Messel.
Đó là một con dơi.
Khả năng bay và bắt côn trùng nhờ đôi cánh
là một thành tựu phi thường. Làm thế nào loài dơi làm được điều đó?
Đây là một nơi lý tưởng với loài dơi, có rất nhiều côn trùng bay xung quanh.
Những con chim đang ăn chúng khi đàn dơi còn đang ngủ trong hang.
Chẳng bao lâu nữa trời sẽ tối, đàn chim phải đi ngủ
những con dơi sẽ bay ra lấy phần của chúng.
Vào ban đêm, thậm chí côn trùng bay còn nhiều hơn ban ngày,
cái cối xay nước này có một đàn dơi Daubenton
đang làm náo động.
Khuôn mặt choắt của chúng rất giống chuột chù
quá dễ khi liên tưởng tới tổ tiên gần giống chuột chù trên cây,
nhảy giữa những cành cây đuổi bắt côn trùng.
Vạt da giữa những ngón tay chúng lớn tới mức
giúp mở rộng những bước nhảy, cho tới khi cuối cùng chúng có thể bay.
vậy chúng bay như thế nào!
Sự biến đổi từ chuột chù nhảy thành một con dơi vỗ cánh
là điều kỳ diệu nhất trong toàn bộ lịch sử loài có vú.
Dơi kiểm soát chuyến bay rất hoàn hảo
tới mức rất ít côn trùng có thể thoát khỏi chúng trong không trung.
Con dơi chộp loài bướm đêm nhờ lớp màng quanh đuôi,
sau đó chuyển nó tới miệng.
Tổ tiên sống trên mặt đất của chúng có thể dùng âm thanh
để tìm đường trong rừng đêm, như loài chuột chù vẫn làm.
Loài dơi đã hoàn thiện kỹ thuật đó,
dùng sóng âm vượt quá khả năng nghe của chúng ta
Một máy dò dơi khiến tiếng dơi có thể nghe được.
Con dơi phát ra những xung âm tần số cao,
rồi lắng nghe hồi âm.
Sau đó, bộ não xử lý âm phản xạ
tạo nên một hình ảnh ba chiều về môi trường xung quanh
và con mồi của chúng.
(Tiếng rít và tích tích)
Bướm đêm, với kiểu bay nặng nề của chúng,
khá dễ bắt.
Một số phát triển một kỹ năng tự vệ một cái tai đơn giản,
khi phát hiện sóng siêu âm của một con dơi kiếm mồi,
chúng có thể đổi hướng bay.
nên một loài dơi đã thay đổi chiến thuật.
loài dơi tai dài không săn mồi bằng siêu âm,
nó dùng đôi tai khổng lồ để nghe con mồi.
Nó thậm chí có thể lọc những âm thanh yếu nhất của nhịp đập sâu bướm
lẫn trong tiếng nước chẩy ồn ào.
Sóng âm giúp nó bay xuyên qua đám cành cây,
nhưng khi tiếp cận sâu bướm, nó chuyến sang "chế độ tàng hình".
Giờ nó chỉ định hướng nhờ tiếng ồn do nhịp cánh sâu bướm.
Tuy nhiên, hệ thống này chưa hoàn hảo.
Dơi có thể nghe thấy sâu bướm xuyên qua lá,
nó tiếp cận con mồi từ phía lá bên kia.
Một lần may mắn thoát chết với sâu bướm.
Nhưng giờ con dơi đã vòng sang phía lá bên kia.
Nếu sâu bướm bất động, nó không phát ra tiếng ồn nữa,
nên dơi không thể định vị được nó.
Nhưng sớm hay muộn, sâu bướm cũng phải di chuyển.
và nó không còn cơ hội sửa chữa
Làm cách nào để dơi bắt con mồi tĩnh
tại một nơi như thế này, rất lộn xộn đầy thực vật
khiến việc định vị bằng tiếng dội không còn hiệu quả?
Những nơi khó định hướng thường có nhiều thức ăn.
Nhện có nhiều dưỡng chất hơn bướm đêm,
nhưng chúng bất động và có nọc độc
và có mạng nhện rất chắc
dơi có thể gặp nguy hiểm khi vướng vào tơ dính.
Một con dơi Natterer đang bay tới,
Nó có vẻ ý thức rằng hầu hết mạng nhện cực mảnh,
với độ chính xác rất cao, gỡ con nhện khỏi mạng nhện của nó.
Nó thậm chí còn bay ngược khỏi mạng nhện để không bị vướng.
Để phát hiện sợi tơ và nhận diện phía con nhện đang nằm
phải sàng lọc siêu âm phản hồi.
Đàn dơi có đuôi Mexico.
Chúng tạo thành một đám đông lớn nhất dày đặc nhất trong số động vật có vú
được thấy ở bất cứ đâu trên hành tinh.
Có tới 12 triệu con chỉ trong cái hang này.
Một số lượng khổng lồ như vậy phải tìm đủ thức ăn ở đâu,
trong bán kính bay nơi chúng trú ngụ?
Đó là bí ẩn trong một thời gian dài.
Giờ chúng ta sẽ tìm hiểu chúng ăn thứ gì
và nơi chúng tìm mồi - lại rất kỳ lạ.
Một vài năm trước, những phi công bay qua Texas
báo cáo có quan sát thấy dơi ở rất cao.
Những nhà khoa học đã điều tra và khám phá một điều bất thường.
Khi tôi bay vào bầu trời đêm, điều kiện thời tiết có vẻ tốt.
Nhưng radar khí tượng địa phương cho thấy một cơn bão rất gần,
đang tiến tới với tốc độ đáng báo động.
Tuy nhiên, tôi không phải lo lắng. Đó không phải là một cơn bão.
Đó là những đàn dơi ban nãy đang rời khỏi nơi trú ẩn.
Khởi đầu từ một số điểm, đều là miệng một hang động.
Mở rộng rất lớn, lên tới 20 triệu con dơi rời tổ mỗi hang.
Một số bay thấp bên trên Texas, nhưng, điều kỳ lạ là hầu hết đều bắt đầu bay lên cao.
Tới độ cao 3.000 m, chúng tản rộng ra
nên rất khó theo dõi chúng.
Tôi có đem theo thiết bị phát hiện dơi.
(Tiếng ù tần số cao)
Có rồi, đó là tiếng vo ve kiếm ăn.
Chúng đang ăn một thứ gì đó, nhưng đó là cái gì?
Đã lên cao 1000m trên mặt đất, hầu hết vẫn đang bay lên.
Radar thu được một trận bão khác đang ào tới phía trước từ New Mexico,
và những con dơi đang bay về phía đó.
Cái gì có thể thu hút chúng bay lên tới độ cao chót vót này?
Những nhà khoa học tìm hiểu thứ đang bay cao trên bầu trời vào ban đêm
nhờ một thiết bị như thế này.
và trong đó là... những con bướm.
một lượng khổng lồ loài côn trùng này
đang tận dụng sức gió ở trên cao để du hành từ vùng nhiệt đới để kiếm ăn,
đàn dơi lên cao tới ba cây số trên bầu trời đêm để bắt chúng.
Bầy dơi rất lớn và rất phàm ăn
tới mức những cá nhân trong cái hang động này bên dưới tôi
tiêu thụ 120 tấn côn trùng mỗi đêm.
Nếu con dơi phàm ăn vô độ như vậy,
chúng làm cách nào để tồn tại trong mùa đông khi không còn côn trùng quanh đó?
Ở Texas, chúng di cư.
Ở Canada này chúng có một giải pháp thực sự hiệu quả.
(Thì thầm) Ngoài trời, nhiệt độ ân 20 độ.
Bên trong, những nhũ băng lơ lửng trên trần hang.
Tuy nhiên, những con dơi nâu nhỏ này (brown bat)
có thể tồn tại suốt mùa đông không cần ăn.
Chúng làm điều đó như thế nào?
Hình ảnh từ camera tầm nhiệt
cho thấy khuôn mặt tôi có màu đỏ và cam.
Đó là vì nó ấm áp. Tôi là một loài có vú.
Chính xác hơn, tôi đang mất năng lượng dưới dạng nhiệt.
Những con dơi nhỏ lại có màu xanh vì chúng lạnh,
lạnh như khối đá mà chúng đang bấu vào.
Khi những con dơi không bị mất nhiệt ra môi trường xung quanh,
chúng hầu như không dùng tí năng lượng nào cả
sự trao đổi chất đã chậm lại gần như không còn.
Mặc dù đang ở trạng thái ngủ đông rất sâu,
chúng phải thường xuyên thức dậy uống nước
Khi chúng làm ấm nhờ chuyển hóa cơ thể,
hình ảnh trên camera nhiệt sáng dần lên như một lò lửa.
Khi thức dậy, một con đực tìm kiếm những con cái đang ngủ say.
Con dơi này không được chào đón nhiệt tình,
nhưng nó không gặp nhiều kháng cự.
Nó sẽ giao phối với một vài con nữa sau khi đã uống xong
nó chìm trong giấc ngủ tới tận mùa xuân.
Sức mạnh của những chuyến bay không chỉ cho phép dơi bắt côn trùng trong không trung,
nó cũng cho phép chúng mở rộng phạm vi
vươn xa hơn mọi loài động vật có vú nào khác.
Dơi là loài có vú đầu tiên tìm đường tới những vùng đất
bị cô lập ở Nam Thái Bình Dương New Zealand.
Ở đây không có mèo, chuột, nhưng lại có rất nhiều côn trùng.
Đó là thiên đường với bất cứ loài săn côn trùng nào.
Vì vậy, loài dơi phát triển mạnh,
con cháu chúng vẫn còn đâu đó quanh đây.
Để quan sát chúng, tôi phải chờ đêm xuống.
(Sinh vật kêu)
Đây là con vật tôi đang chờ đợi.
Những con dơi này thoạt nhìn rất bình thường, nhưng dơi là loài săn mồi trên không
có rất nhiều con mồi sống trên mặt đất tại New Zealand .
Chúng có thể bay nếu muốn, nhưng camera hồng ngoại cho thấy
chúng có kiểu săn mồi chẳng giống loài dơi.
Chúng hạ cánh trên mặt đất và kiếm ăn trong đám lá rụng,
giống như chuột chù.
Lê bước trên cổ tay chúng với xương ngón tay hướng lên
rãnh vào một đường rãnh dọc theo cánh tay trên.
Giờ chúng đang săn theo đàn.
Côn trùng và những sinh vật nhỏ thoát khỏi miệng con này...
lại lao thẳng vào con khác.
Giun là món ăn khoái khẩu.
ngon hơn rất nhiều hàng trăm con muỗi.
Chúng không muốn chia sẻ với con khác.
Chúng kết thúc bữa ăn bằng đồ uống là mật hoa
lấy từ cây hades nở đầy trên mặt đất.
Chúng là côn trùng thụ phấn cho loài thực vật này.
Mối quan hệ giữa thực vật và thợ thụ phấn...
cần một thời gian dài để tiến hoá, nên loài dơi...
phải thâm nhập nền rừng New Zealand
từ hàng triệu năm trước.
Gun và mật hoa là con mồi dễ dàng, nhưng còn con vật này?
Đó là con dế weta, một loài dế bay khổng lồ,
với những chiếc chân gai và cặp hàm hung dữ.
Làm thế nào để con dơi, mà tổ tiên vốn là loài ăn muỗi, có thể ăn nó?
Weta có thể đá hậu bằng chân sau với lực đáng kinh ngạc.
Thậm chí nếu tránh được,
bạn vẫn phải đối mặt với cặp hàm mạnh mẽ của nó.
Con dế khổng lồ giành thế thượng phong ...
.. nhưng nó sớm bị áp đảo bởi số lượng.
Giờ đàn dơi kỳ lạ này lại tranh giành lẫn nhau
với sự tàn bạo tương tự.
Tiến hóa thường không thụt lùi
nhưng có vẻ ở đây lại diễn ra điều đó.
Sau vài triệu năm chinh chiến trên không,
những con dơi này đang quay lại những kỹ thuật săn bắt
giống loài chuột chù tổ tiên của chúng.
Động vật có vú đã săn đuổi côn trùng tới những nơi hẻo lánh khắp hành tinh.
Chúng truy đuổi chúng lên tận bầu trời và trở lại mặt đất một lần nữa.
Loài săn côn trùng đã xuất hiện ngay khi bắt đầu...
có sự gia tăng những loài có vú, và chúng vẫn còn tồn tại tới tận ngày nay.
Chúng là một trong những câu chuyện thành công nhất trong đời sống loài có vú.
Nguồn: MVGroup Biên dịch: Hoàng Hà (Anabas)
Can't find what you're looking for?
Get subtitles in any language from opensubtitles.com, and translate them here.